Thứ Tư , 07:20, Ngày 28/06/2017

Gia đình và pháp luật

Hải Phòng: Hành trình khai quật ngôi mộ cổ nghi của Trạng Trình

Tiến hành khai quật những ngôi mộ cổ được phát hiện trước đó tại xã Cộng Hiền (Huyện Vĩnh Bảo, TP. Hải Phòng) nhiều nhà khoa học đã không khỏi bất ngờ trước những bí mật phía dưới lớp đất đá.

Từ những hiện vật thu được từ công tác khai quật, đã dấy lên những đồn đoán về phần mộ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm và phần mộ của các Vua Mạc?.

Tấm quách 1700 năm tuổi nói gì?

Vào các ngày 7/4 và 15/10/2014, các đoàn cán bộ thuộc Viện Nghiên cứu và Ứng dụng tiềm năng con người, cùng đoàn cán bộ của Viện khảo cổ đã tiến hành cuộc khai quật ngôi mộ cổ tại khu sân vườn cạnh bờ ao nhà bà Bùi Thị Hiền - ngụ thôn Hạ Đồng, xã Cộng Hiền, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng. Tại đây, các nhà khoa học đã phát hiện được nhiều di vật có giá trị lịch sử gồm: 2 tấm quách bằng gỗ, 1 tấm còn khá nguyên vẹn, 1 chiếc tiểu gốm có hoa văn lạ và 9 chiếc cúc vàng hình nụ chè.

Tấm quách

9 chiếc cúc vàng

Tại ngôi mộ cổ được khai quật đầu tiên, các nhà nghiên cứu đã phát hiên được một tấm quách được thiết kế theo quy cách: 1,26 m x 0,30 m x 0,33 m được cấu tạo bằng các tấm thiên, địa và xung quanh được ghép mộng và chốt bởi những “thẻ” gỗ có đầu vót nhọn.

Tiến sĩ khảo cổ học Lê Đình Phụng, khẳng định 3 vấn đề về tấm quách: chất liệu gỗ Ngọc Am, màu sơn vỏ quách và các quy cách thiết kế, đặc biệt kiểu mộng ghép… theo các chỉ số phong thủy phù hợp với văn hóa mai táng người thuộc tầng lớp quý tộc mất vào giai đoạn cuối thế kỷ 16 và thế kỷ 17.

Giấy chứng của 2 cụ đồ nho đã đọc được chữ trên quách

Ngay sau đó, PGS.Tiến sỹ Nguyễn Lân Cường (Tổng thư ký Hội Khảo cổ Việt Nam) đã thực hiện tổ chức việc kiểm định niên đại tấm quách tại Phòng thí nghiệm Thủy văn đồng vị, thuộc Trung tâm hạt nhân thành phố Hồ Chí Minh. Theo đó, mẫu gỗ lấy từ tấm quách (Mẫu gốc ký hiệu No.­1 NBK; Mẫu kiểm định số 02- KC/ 2014 ngày 10/7/2014) đã xác định niên đại gỗ 1700 năm, sai số 75 năm.

Gỗ Ngọc am là loại gỗ quý hiếm (Ngọc am, nghĩa là ngọc ở dưới đất). Cây gỗ là cây Hoàng Đàn, họ thông có thể sống nghìn năm tuổi, khu vực sinh trưởng là vùng núi tai mèo heo hút Hà Giang. Tuy nhiên chỉ khi nó được vùi lấp xuống đất từ vài trăm năm trở lên, khi toàn bộ dầu trong thân tụ vào lõi và tỏa mùi thơm thì mới được gọi là Ngọc am.

Như vậy từ khi là phôi đến lúc “hóa” Ngọc Am, tuổi đời của gỗ đã cả nghìn năm (theo phương pháp phân tích niên đại C-14). Người ta chọn lõi gỗ này làm ván khi hung táng, hoặc làm quách sau khi cát táng, bởi chất dầu từ gỗ có thể giữ da thịt hoặc xương cốt bền vững do nó có 1 hợp chất thành phần chủ yếu là dầu thông làm vô trùng tuyệt đối.

Những nội dung trên chứng minh 3 điều: thứ nhất tấm quách gỗ Ngọc am cực kỳ quý hiếm với niên đại 1700 năm là phù hợp với thời điểm khoảng 500 - 600 năm trở lại đây tương ứng thời kỳ nhà Mạc, vì niên đại được tính từ lúc cây được chặt khỏi gốc (hoặc chế) và vùi trong đất; trong khi trước đó, khu đất tại thôn Hạ Đồng hiện nay chỉ là vùng nước ngập đang bồi, ven sông hoang vắng có thể chọn làm địa điểm chôn dấu bí mật lý tưởng.

Thứ 2, người được dùng nó làm quách mai táng không phải người thường dân, thậm chí không phải quan lại cỡ nhỏ. Nếu suy xét vị trí địa lý huyện Vĩnh Bảo trong điều kiện đường xá xa xôi, hiểm trở ở thời điểm đó, thì việc người thường dân lên Hà Giang khai thác gỗ này làm quách để dùng là điều không thể.

Do đó gỗ phải được ban phát hoặc tặng cho những mệnh quan triều đình, mà người như vậy quê ở huyện Vĩnh Bảo có mặt trong Triều, thời điểm này không phải là nhiều. Thực tế, theo thống kê của Phòng Văn hóa Thông tin huyện Vĩnh Bảo, trong số 19 vị đỗ đại khoa thời khoa bảng phong kiến, thì có 15 vị đã xác định rõ tham gia các chức vụ trong triều đình các thời kỳ, sớm nhất là Hoàng Giáp Phạm Đức Khản (Hội Am- Cao Minh đỗ khoa thi Mậu Thìn 1448) giữ chức Tả Thị Lang và sau cùng là Tiến Sĩ Nguyễn Duy Tinh (Tạ Xá, Tứ Kỳ (cũ) Vĩnh Lại) đỗ khoa Ất Mùi 1535 giữ chức Thừa Chính Sứ.

Các vị này đều đã được các dòng họ hoặc nhân dân bản quán xác định phần mộ, duy nhất chỉ còn Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm là ngôi mộ của Người vẫn chỉ tồn tại trong truyền thuyết.

Truyền thuyết dân gian huyện Vĩnh Bảo từ xa xưa đã truyền khẩu câu đồng giao về nơi yên nghỉ của Trạng Trình “Ba Ra trông sang, Ba Đồng ngoảnh lại, táng tại Ao Dương”. Tuy truyền thuyết có yếu tố kỳ ảo, song xét theo nguyên lý khoa học, truyền thuyết bao giờ cũng bắt nguồn từ cốt lõi lịch sử.

Theo đó cửa sông Ba Ra nằm chếch phía Đền Trạng Trình hiện tại khoảng hơn 1 km, dòng sông này có luồng chảy về khu vực Thượng Đồng và Hạ Đồng 1 và Hạ Đồng 2 (Ba Đồng), tại đây có 1 lạch sông nhỏ dẫn vào 1 chiếc ao đáy phủ rêu xanh 4 mùa, chiếc ao đó của ông Trần Rường (nguyên Bí thư huyện ủy huyện Vĩnh Bảo, bố chồng cô Hiền đã nói ở trên). Chữ “Rường” là phát âm ngọng phụ âm “d” rất phổ biến của cư dân Vĩnh Bảo, như vậy Ao Dương, có phải là cách nói bí hiểm của Cụ Trạng Trình?

Tất cả những địa danh này đều trên địa phận huyện Vĩnh Bảo. Vì vậy giả thuyết đưa ra là người ta đã cải táng phần mộ hung táng ở khu vực cửa Ba Ra, xuôi theo sông này và chôn mộ cát táng tại Ao Dương.

Hoa văn thời Mạc và 9 chiếc cúc áo Vua?

Trong quá trình khai quật ngôi mộ cổ nghi là của Trạng Trình, các nhà nghiên cứu còn phát hiện thêm 1 tấm quách khác tương tự và 1 chiếc tiểu gốm. Khi lật các tấm thiên và phần nắp đậy chiếc tiểu gốm, họ có cảm giác như cả 2 đều phủ lớp gì đó óng ánh phủ lên.

Sau khi làm thủ tục rửa xương ở tám quách gỗ thứ 2 này, người dân thu được 9 chiếc cúc màu vàng. Cúc được gia công hình nụ chè, rỗng nhẹ, bề mặt có nét kẻ hoa văn tinh xảo. Khi xem những chiếc cúc vàng hình nụ chè các nhà nghiên cứu nhận định, chỉ có Vua là người duy nhất được mặc áo cúc vàng với số lượng 9 chiếc (Cửu đỉnh) biểu tượng của ngôi cao nhất. Hiện những chiếc cúc vẫn được lưu giữ, chỉ có 1 chiếc theo tâm linh, người dân đã bỏ lại trong cỗ tiểu mới và chôn cất cùng với phần xương.

Riêng chiếc tiểu gốm, xung quanh có nhiều loại hoa văn, trong đó có hoa văn hình con nghê. Kiến trúc sư Lê Kiên khẳng định: tôi đã tra cứu những hoa văn trên chiếc tiểu gốm và so sánh nó với một số hình hoa văn khác trong các hình chụp hoa văn cổ và các hoa văn khác ở các công trình kiến trúc hiện còn tại Việt Nam thời kỳ cuối triều Mạc, thì thấy có sự tương đồng rõ nét.

Mặt tiểu được đậy bởi 3 viên gạch có 3 màu khác nhau: xanh, đỏ, nâu ; trên mặt những viên gạch này có những chữ Nho. Tuy nhiên hiện nay chưa đọc được, vì lý do tâm linh người dân đem chôn lại và xây mộ ngay trên địa điểm khai quật.

Quay ngược về thời điểm thế kỷ 16, 17, chúng ta đều thống nhất hoàn cảnh Vương triều Mạc giai đoạn cuối vô cùng gian nan. Triều Mạc, theo quan niệm của các vương triều thời đó bị coi là Ngụy triều, nên giai đoạn lịch sử từ 1533-1677, chiến tranh Lê, Trịnh và Mạc nổ ra liên miên.

Cuối những năm 60 của thế kỷ 16, nhà Mạc suy yếu và bị tấn công mọi phía; năm 1593 vua Mạc Mậu Hợp bị giết, Vương triều phải chạy lên Cao Bằng cát cứ. Mặt khác theo quan niệm duy tâm, để triệt hạ tuyệt đối dòng giống của một thế lực nào đó, người Việt có tục đào bới bùa yểm lăng mộ.

Bên cạnh đó là truy tìm tận diệt dòng họ, điều này dễ kiểm nghiệm bằng vụ thảm án Trạng nguyên Trần Tất Văn (1428-1527), đỗ khoa Bính Tuất, thời Thống Nguyên năm thứ 5, năm 1526, đời Lê Cung Hoàng, bị thế lực Lê - Trịnh tru di tam tộc. Và sau này, chính Trạng Trình cũng phải cho con cháu đổi họ mai danh đi khắp nơi tránh hậu họa.

Từ thực tế lịch sử đó có thể thấy, Trạng Trình bằng tài tiên tri của mình đã đoán định được việc này, với lòng trung quân, Cụ có thể di dời mộ của các bậc quân vương về đây trước khi Cụ tạ thế, và vị vua này phải ở ngôi trước Mạc Mậu Hợp.

Đây chính là cách bảo lưu di hài bí mật để không bị khai quật. Trên thực tế, xem lại các sách và thư tịch cổ sau thời Mạc, không hề có sách nào viết về tình tiết các vua nhà Mạc bị đào bới lăng mộ. Cũng cần lưu ý thêm rằng, đất phát tích nhà Mạc là ở huyện Kiến Thụy và Kinh đô (Dương Kinh) gần gũi với Vĩnh Bảo, giao thông thủy bộ đều thuận tiện, xa Thăng Long; Nên khả năng tổ chức di dời mộ của các Vua về vùng đất này là hoàn toàn có căn cứ. Như vậy, những hiện vật khai quật tại Ao Dương rõ ràng đã trở thành vấn đề văn hóa.

Để đi đến sáng rõ mọi vấn đề theo cách nhìn khoa học, căn cứ trên thực tế phát lộ tại đây. Tuy vậy, việc tìm ra chủ nhân đích thực của các ngôi mộ cổ vẫn còn là phần công việc nhiều gian nan mà các nhà nhà khoa học còn phải cất công khai phá.

TS Nguyễn Đình Minh - Hiệu trưởng trường THPT Nguyễn Khuyến - Hải Phòng / KD&PL

Tin Liên quan

Tags : hải phòng lịch sử mộ cổ khai quật

Tin Chuyện lạ tiếp theo

Tin Chuyện lạ mới nhất

Tin đọc nhiều