Thứ Năm , 04:24, Ngày 17/08/2017

Gia đình và pháp luật

Những nghề gắn với một vùng đất

Đẩy côn, đi mong là những nghề thật lạ. Không nơi nào có cái nghề "thú vị" này như vùn đất miền Tây, vùng đất có điều kiện thiên nhiên khác biệt, một miền sông nước kỳ lạ...

Vùng đất miền Tây với những đặc điểm thiên nhiên độc đáo vốn có của nó không chỉ tạo nên một miền sông nước với những đặc sản có một không hai, mà với điều kiện thiên nhiên khác biệt, để thích nghi với nó, người dân nơi đây cũng sáng tạo nên những nghề thật lạ…

Đẩy côn mùa nước tràn đồng

Người miền Tây đẩy côn mùa nước nổi.

Nếu có dịp về với vùng trũng vào mùa nước nổi, thưởng thức con cá lóc đồng nướng trui thơm phức, ngọt lịm, bạn có bao giờ thắc mắc những người nông dân dùng công cụ gì để bắt cá không? Bạn sẽ cảm thấy vô cùng thú vị khi biết được suốt 20 năm qua người dân “săn” cá lóc trên những cánh đồng tràn nước là bằng đẩy Côn.

Đẩy Côn là công cụ không những giúp người dân mang lại nguồn kinh tế cao, mà còn góp phần bảo vệ nguồn sinh thái, chỉ bắt cá trưởng thành không bắt cá nhỏ như các công cụ khác. Đẩy Côn – Giàn Côn là công cụ mà người dân Vùng Trũng Đồng Tháp Mười mưu sinh vào mùa nước tràn đồng, chẳng biết nghề này có từ khi nào, chỉ biết người dân nơi đây xem đẩy côn là một nghề thực thụ suốt 20 năm qua.

Hiểu một cách nôm na giàn côn là công cụ khua nước, khi chạm vào côn cá giật mình chúi xuống bùn, người dân sẽ quan sát vị trí cá chúi nhờ tim nước rồi dùng nơm bắt.

Côn được làm bằng những cọng sắt to bằng ngón tay út, có độ dài 1,5 m; một đầu côn được buộc vào một sợi dây nilông và được nối liền lại với nhau thành một hàng “rào sắt”, có khoảng cách từ 20 – 30 cm.

Chọn hai cây tre dài, thẳng làm luồng côn, hai luồng côn được xếp theo hình chữ V đặt mở mũi xuồng. Mỗi luồng côn có chiều dài từ 12 – 15m. Để giữ cân bằng hai luồng côn cũng như điều chỉnh hai luồng côn cao hay thấp phụ thuộc vào cột trụ dựng đứng, có chiều cao khoảng 3 – 4 m để gánh hai luồng côn.

Khi bắt đầu đẩy côn, người ta chỉ cần mắc các côn vào luồng côn và điều chỉnh luồng côn cho phù hợp với mực nước. Sau đó người đẩy côn lên xuồng dùng xào đẩy xuồng đi tới. Khi đó, luồng côn cũng được kéo theo và cá va chạm với các côn sẽ chúi xuống đất, tạo thành bong bóng nước nổi lên mặt nước. Lúc này, người đẩy côn, chỉ việc dùng nơm bắt cá.

Đẩy côn thường bắt đầu vào lúc 6 giờ sáng, còn buổi chiều là khoảng 15 giờ, vì thời gian này nhiệt độ thấp, cá mới lên ruộng nhiều.

Theo người dân vùng lũ, trong các loại hình đánh bắt cá thì dùng côn khá đơn giản, không tốn nhiều chi phí đầu tư nhưng hiệu quả, đem lại nguồn thu nhập đáng kể cho nhiều hộ dân miền Tây. Tuy nhiên, không phải ai cũng làm được, vì để “săn” cá lóc đồng bằng đẩy côn cũng đòi hỏi phải có sức khỏe để lội trên đồng ruộng ngập nước, dầm mưa dãi nắng gần như suốt cả buổi. Đặc biệt, phải có tài quan sát bong bóng nước của cá, làm được điều này chỉ có những người nông dân tay lắm chân bùn sống giữa vùng sông nước, am hiểu tập tính của cá.

Mùa nước nổi cá về lũ lượt, đẩy côn là một nghề giúp người nông dân vùng lũ mưu sinh, đẩy côn không chỉ bắt được cá lóc mà còn bắt được cá trê, cá rô đồng, sống giữa thiên nhiên, chúng không to con, có nhiều kích cỡ, nhưng thịt thơm mềm có vị ngọt hậu là thứ đặc sản đồng quê giản dị mà đậm đà hương vị đến một cách kì lạ.

Đẩy côn không chỉ là công việc, hay dụng cụ bắt cá là đúng nghĩa hơn là “nghề”, nghề “săn” cá lóc đồng bằng đẩy côn xuất hiện ngày càng nhiều, nhưng đặc biệt là tại các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Hậu Giang và Vĩnh Long… Khi nước lũ về, những cánh đồng tràn nước trắng xóa, nghề đẩy côn của người dân vùng lũ miền Tây bắt đầu hoạt động nhộn nhịp.

Những kí ức còn lại của nghề “Đi Mong”

Người đi đạp “mong” trở về sau một ngày vất vả

Biển miền Tây đa phần là bãi bồi nhiều phù sa, đây cũng chính là đặc điểm riêng tạo nên nét độc đáo của Vùng, từ đây một nghề của biển đã hình thành – nghề đi Mong, hay còn gọi là trượt ván bắt cá.

Nghề đánh bắt cá là một ngành nghề khá phổ biến và là nghề mưu sinh chủ yếu của người dân sông nước Miền Tây. Nó gắn liền với tuổi thơ của nhiều thế hệ đã đi qua theo từng con nước của dòng sông mang tên chín rồng.

Dọc theo dòng sông Cửu Long, tuỳ theo mỗi vùng, tuỳ theo con nước, và tuỳ theo mỗi loại cá, mà có hình thức đánh bắt khác nhau, rất phong phú và đa dạng. Đối với những bãi bồi ven biển Tây Nam bộ thì hình thức đi Mong có thể xem là một nghề, một nét văn hoá biển Tây Nam Bộ.

Về với biển Tây Nam bộ, khá nhiều du khách sẽ cảm thấy thất vọng vì biển nơi đây đa phần là bãi bồi nhiều phù sa, không thích hợp tắm biển. Nhưng chính vì đặc điểm này đã tạo nên một nghề của biển – nghề đi Mong, hay còn gọi là trượt ván bắt cá.

“Mong” là một tấm ván mỏng được người dân ở đây chế tạo dùng làm phương tiện di chuyển trên bùn lầy nhanh và nhẹ nhàng dọc bãi bùn ra đến thềm nước để thả lưới bắt con cá, con sò trang trải cuộc sống hằng ngày. Dù chỉ là một tấm ván rộng gần ba tấc, dài hơn 1 m nhưng quá trình chế tác “mong” cũng không hề đơn giản: Không quá dày để bớt sức nặng, cũng không quá mỏng vì sẽ mau mòn hư.

Ván dùng làm “mong” phải là cây me nước, dầu hoặc mù u vì có độ bền cao, nếu bảo quản tốt có thể sử dụng đến hai, ba năm. Để cho tiện, người ta còn đóng cho “mong” quai cầm, chỗ để giỏ đựng, có người kỹ lưỡng còn lót thêm miếng cao su để lúc chân quỳ lên không bị ê buốt.

Nghề đi Mong đã có lịch sử ít nhất vài trăm năm tại các vùng ven biển Miền Tây nói chung, cũng như Cầu Ngang – Trà Vinh hay Trần Đề – Sóc Trăng nói riêng. Không ai nhớ nổi nghề này có tự khi nào, chỉ biết từ rất xưa và đã được từng thế hệ ông và cha truyền dạy cho thế hệ sau cách “đi mong”.

Đối với những bà con sống ven biển, sau những buổi trưa đồng vất vả, mong muốn lớn nhất của họ là có một ngày bội thu được nhiều cá. Tuy nhiên, Mong không còn là nghề còn mang lại nhiều thu nhập cho người dân nơi đây. Vì không phải lúc nào giỏ cũng bội thu cá.

Ấy vậy mà cái nghiệp đi Mong đã gắn bó với cuộc sống của người dân nơi đây từ đời này sang đời khác. Bãi bồi ven biển trải rộng tựa như đường đua bất tận, sáng sớm, khi thủy triều rút cạn, bãi bồi lộ dần, phụ nữ, trẻ em đạp Mong ra biển để bắt nghêu, cá kèo, cá bống.

Ban đêm, thanh niên, đàn ông đạp Mong để soi cua, cá. Nếu có sức khỏe tốt, người đạp Mong có thể đạt tốc độ đến 15 cây số/giờ, tức là bằng với tốc độ trung bình của xe đạp.

Có người kể rằng cứ mỗi tháng Hai con nước rằm và ba mươi, người đi Mong chỉ cần ra biển hơn 10 ngày cũng dư sống cho cả tháng. Nhưng đó là chuyện của ngày trước, khi dân còn thưa, các phương tiện đánh bắt còn ít và nguyên tắc “bắt con lớn chừa con nhỏ” còn duy trì.

Đi Mong hay đạp Mong đã được xem là như một nết văn hoá biển của tỉnh Trà Vinh, vào lễ hội cúng biển mỗi năm, dân trong làng tổ chức hội thi “đua Mong” như là một phần nghi thức truyền thống không thể thiếu. Tuy nhiên, hội thi “đua Mong” giờ đây không còn nữa, có lẽ vì biển ngày trở nên nghèo nàn, cũng có lẽ chén cơm manh áo, vì chuyện sinh nhai…

Và dù là lý do gì đi nữa thì một nét đẹp văn hóa được lưu giữ hàng trăm năm đang bị lãng quên.

Bảo Phương (TH)/KD&PL

Tin Liên quan

Tags : nghề đi mong đạp côn mùa nước lũ

Tin Tốc hành Việt tiếp theo

Tin Tốc hành Việt mới nhất