Cảm nhận bức tranh thiên nhiên trong bài Tràng giang (Huy Cận)

Cảm nhận bức tranh thiên nhiên trong bài Tràng giang (Huy Cận)

Bức tranh thiên nhiên trong bài Tràng Giang của Huy Cận hiện lên như nốt nhạc buồn du dương trước khung cảnh rộng lớn của thiên nhiên. Một nỗi buồn nhẹ nhàng man mác khắp cả đất trời – một nỗi buồn vạn kỷ rất riêng của Huy Cận. Cùng tìm hiểu sâu hơn về bức tranh thiên nhiên này qua bài viết sau đây của PUD nhé !

Giới thiệu về tác giả, tác phẩm

Đôi nét về nhà thơ Huy Cận

Huy Cận (sinh năm 1919 – mất năm 2005) tên khai sinh là Cù Huy Cận, quê ở Hà Tĩnh. Thuở nhỏ, ông học ở quê rồi vào Huế học hết trung học. Năm 1939, ông ra Hà Nội học trường cao đẳng Canh nông. Từ năm 1942, Huy Cận tích cực hoạt động trong mặt trận Việt Minh.

Ông tham dự Quốc dân đại hội Tân Trào, được bầu vào Ủy ban dân tộc giải phóng toàn quốc. Sau Cách mạng tháng Tám, ông liên tục tham gia chính quyền cách mạng và giữ nhiều trọng trách khác nhau. Năm 1996, ông được Nhà nước trao tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.

Trong lĩnh vực văn học, Huy Cận đã có nhiều đóng góp cho nền văn học nước nhà và là một trong những gương mặt tiêu biểu của phong trào thơ mới. Huy Cận yêu thích thơ Đường nhưng đồng thời cũng chịu nhiều ảnh hưởng của văn học Pháp. Vì thế trong thơ của Huy Cận, ta vừa bắt gặp những nét lãng mạn đậm chất phương tây lại vừa bắt gặp vương vấn trong mỗi vần thơ phong vị Đường thi.

Sáng tác của Huy Cận có thể chia ra làm hai giai đoạn trước và sau cách mạng tháng tám. Dù ở giai đoạn nào, Huy Cận cũng đạt được nhiều thành tựu. Trước cách mạng Tháng tám, có thể nhắc đến tập thơ Lửa thiêng (1937 – 1940), văn xuôi Kinh cầu tự (1942), tập thơ Vũ trụ ca (1940 – 1942). Sau cách mạng Tháng tám, ông có bút lực dồi dào hơn và có nhiều đổi mới.

Huy Cận tìm thấy sự hòa điệu giữa con người và xã hội. Điều đó được thể hiện trong các tập thơ Trời mỗi ngày lại sáng (1958), Đất nở hoa (1960), Bài thơ cuộc đời (1963), Những năm sáu mươi (1968)…

Tìm hiểu về bài thơ Tràng giang

Bài thơ Tràng giang được trích từ tập thơ Lửa thiêng. Vào năm 1939, một buổi chiều thu, ông đứng ở bờ nam bến Chèm. Khi nhìn thấy dòng chảy của sông Hồng, ông suy nghĩ về cuộc đời và sáng tác nên bài thơ này. Khung cảnh sông nước hữu tình cộng hưởng với tâm hồn đa cảm của nhà thơ đã gợi tứ cho “Tràng Giang”. Và tiêu đề của bài thơ đã là một điều gì rất đẹp nhưng buồn. Phân tích thiên nhiên Tràng giang, ta thấy đó là nỗi niềm của một cái tôi cô đơn lạc lõng giữa dòng chảy của cuộc đời được thể hiện rõ nét qua khung cảnh thiên nhiên.

Cảm nhận bức tranh thiên nhiên trong bài Tràng giang của Huy Cận

Từ muôn đời nay, thiên nhiên vẫn luôn là người bạn tri âm tri kỷ của hồn mộng thi sĩ. Thiên nhiên gắn bó, đồng cảm và sẻ chia với thi nhân mọi xúc cảm cũng như nỗi lòng. Nếu như hoa lá cỏ cây say mê và rạo rực cùng tâm hồn sôi nổi Vội vàng của Xuân Diệu, trăng và đêm chao đảo điên cuồng cùng nỗi đau của Hàn Mặc Tử… và sông trời mây nước trong vũ trụ này sầu “ảo não” với nỗi buồn “vạn kỷ” của tâm hồn Huy Cận. Bức tranh thiên nhiên Tràng giang rất đẹp, sinh động nhưng cũng thấm đượm nỗi buồn tủi cô đơn của người nghệ sĩ.

Sự bao la rợn ngợp của sông nước

Bài thơ mở ra một bức tranh thiên nhiên Tràng giang rất đẹp, bàng bạc một nét đẹp cổ xưa. Vẫn là đề tài quen thuộc ấy, từ những thi liệu và bút pháp nghệ thuật vốn có trong thơ cổ, nhà thơ của Lửa thiêng đã vẽ nên trên nền trời mây, sông nước mênh mông vô cùng, vô tận những sự vật nhỏ bé, đặc trưng.

Trong quá trình phân tích bức tranh thiên nhiên Tràng giang, có lẽ điều khiến người đọc ấn tượng hơn cả là những hình ảnh như sóng gợn, thuyền trôi, gió đìu hiu, bến cô liêu, bèo dạt, mây cao, núi bạc, chim nghiêng… gợi nên cái hồn thiên nhiên của thơ ca từ bao đời này. Có lẽ, nếu cứ nhìn người ta vẫn ngỡ đó là không gian của cảnh đẹp tiêu sơ và vắng lặng vốn thấy trong thơ Đường. Thế nhưng, bức tranh thiên nhiên Tràng giang hiện ra trước hết là khung cảnh rợn ngợp bao la của đất trời.

“Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp

Con thuyền xuôi mái nước song song”

Mở đầu bài thơ là hình ảnh những con sóng nối tiếp, nối tiếp nhau đến tận chân trời. Sự kéo dài của những cơn sóng như bất tận tạo cảm giác dường như không gian cũng được mở rộng ra. Từ “gợn” được tác giả dùng thật khéo không chỉ gợi được sự chuyển động của sóng nước mà còn gợi được một cảm giác mơ hồ, nhẹ nhàng nhưng day dứt xao xuyến mãi không nguôi như những cơn sóng vẫn miệt mài ngày đêm xô vào bờ. Từ “gợn” ấy ta cũng từng bắt gặp trong ca dao

“Chiều chiều bước xuống ghe buôn

Sóng bao nhiêu gợn dạ em buồn bấy nhiêu”

(Ca dao)

Con sóng của đại dương hay chính là con sóng của tâm hồn đang xao xuyến? Cảm giác mơ hồ ấy ngày càng mạnh mẽ hơn để rồi bộc bạch trực tiếp thành một nỗi niềm “buồn điệp điệp”. Từ láy “điệp điệp” thường được dùng để diễn tả cảnh núi non hùng vĩ hay khung cảnh hùng tráng trong Việt Bắc.

“Quân đi điệp điệp trùng trùng

Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan”

(Việt Bắc – Tố Hữu)

Còn trong câu thơ của Huy Cận, bức tranh thiên nhiên Tràng giang với “điệp điệp” lại được dùng để chỉ nỗi buồn. Nỗi buồn vốn là một trạng thái cảm xúc vô hình chỉ có thể cảm thấy nhưng trong kết hợp này nỗi buồn ấy lại có hình có khối. Nỗi buồn ấy theo con nước mà tràn đầy. Đứng trước khung cảnh rợn ngợp của thiên nhiên ấy mấy ai mà không thấy buồn mấy ai mà không thấy mình nhỏ bé bất lực.

Bởi lẽ đó mà “con thuyền xuôi mái”. Con thuyền dường như cũng thấy mình bất lực trước dòng chảy. Dù có cố gắng mấy nhưng cuối cùng con thuyền vẫn xuôi theo dòng nước không thể cưỡng lại được. Đó cũng là sự bất lực của con người trước dòng chảy của thời gian. Giữa sự chảy trôi tuyến tính của thời gian, sự xuất hiện của con người chỉ như mây khói thoáng qua.

Phân tích bức tranh thiên nhiên Tràng giang, ta thấy từ “song song” bỗng nhiên như vạch ra ranh giới giữa con thuyền và sóng nước gợi ra một cảm giác về sự chia li. Ở hai dòng thơ đầu, nghệ thuật đối của thơ Đường đã được vận dụng tinh tế trong cách sử dụng từ láy. “Điệp điệp” đối với “song song”. Không chỉ đối về mặt thanh điệu mà còn đối với nhau về ý. Cả hai cùng gợi ra một không gian rộng lớn chất chứa nỗi buồn nhân thế.

“Thuyền về nước lại sầu trăm ngả”

Thuyền và nước vốn gắn liền nhau nhưng trong khổ thơ đầu lại chia lìa nhau. Nếu ở câu thơ trên, thuyền và nước dường như “song song” thì ở dòng thơ này thuyền và nước lại tách rời nhau mỗi nơi mỗi ngả. Sự chia li của cảnh vật hay cũng chính là sự chia li của lòng người.

Nghệ thuật tiểu đối “thuyền về nước lại” càng nhấn mạnh thêm nỗi niềm ấy. Nếu ở trên là “buồn điệp điệp” thì bây giờ lại là “sầu trăm ngả”. Ở trạng thái “sầu” ta bắt gặp một cảm xúc có phần mạnh mẽ, mãnh liệt và ám ảnh hơn “buồn”. Như trong câu thơ của Nguyễn Du “Sầu đông càng lắc càng đầy”.

Nỗi sầu ấy không chất chồng chất đống mà lan tỏa ra khắp “trăm ngả”. “Trăm” là một con số ước lệ chỉ số lượng nhiều. “Trăm ngả” không phải là hướng chảy của dòng nước mà là của nỗi sầu. Bức tranh thiên nhiên Tràng giang còn thể hiện ở nỗi sầu theo con sóng xô dạt đến tận chân trời xa. Con sóng lòng bất tận ấy ta cũng từng bắt gặp trong vần thơ nhẹ nhàng đằm thắm nhưng không kém phần da diết của Xuân Quỳnh.

“Dẫu xuôi về phương bắc

Dẫu ngược về phương nam

Nơi nào em cũng nghĩ

Hướng về anh một phương”

(Sóng – Xuân Quỳnh)

Giữa không gian rộng lớn mênh mông, không chỉ có sự xuất hiện nhỏ bé của chiếc thuyền mà bức tranh thiên nhiên Tràng giang còn được điểm tô thêm bằng sự xuất hiện của cành củi khô.

“Củi một cành khô lạc mấy dòng”

Kết cấu đảo ngược đã nhấn mạnh thêm sự xuất hiện của cành củi. Đây là một hình ảnh độc đáo. Khi nói về sự nhỏ bé của kiếp người, thi nhân thường dùng hình ảnh chiếc thuyền

“Chiếc bách buồn vì phận nổi nênh

Giữa dòng ngao ngán nỗi lênh đênh”

(Tự tình III – Hồ Xuân Hương)

Hay như tác giả dân gian so sánh với:

“Thân em như trái bần trôi

Gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu”

(Ca dao)

Nhưng Huy Cận lại thể hiện số phận nhỏ bé của con người qua hình ảnh cành củi. Bản thân hình ảnh cành củi đã gợi lên một sự nhỏ bé chỉ đành lênh đênh trôi nổi trên dòng nước không có bến bờ để neo đậu nhưng đó còn là một cành củi khô. Không chỉ cô đơn mà còn là một sự khô héo đến thiếu sức sống.

Lần đầu tiên trong thơ văn xuất hiện hình ảnh cành củi khô tuy đơn sơ nhưng lại giàu sức gợi. Bức tranh thiên nhiên Tràng giang hiện lên với hình ảnh một cành củi khô đơn lẻ, cô quạnh mênh mông trên sóng nước cũng là hình ảnh con người bơ vơ đến tận cùng giữa vòng xoáy của cuộc đời. Đó cũng là tâm trạng của thi nhân khi đứng trước dòng sông rộng lớn bao la mà nghĩ về cuộc đời.

Bãi bờ quạnh vắng cô đơn

Sự cô đơn không chỉ xuất hiện ở nơi dòng sông rộng lớn mênh mông mà còn xuất hiện ở khung cảnh hai bên bờ sông.

“Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều

Nắng xuống trời lên sâu chót vót

Sông dài trời rộng bến cô liêu”

Bức tranh thiên nhiên Tràng giang hiện lên với cảnh vật đa dạng và phong phú. Không gian cũng được mở rộng hơn. Từ không gian hẹp của cồn nhỏ, chợ chiều đến không gian rộng lớn của sông dài trời rộng. Tất cả ngơ như đầy sức sống nhưng cuối cùng lại chìm trong sự tịch liêu. Từ láy “lơ thơ”, “đìu hiu” gợi lên sự buồn bã quạnh vắng.

Nghệ thuật tăng cấp càng khiến cho không gian tịch mịch hơn. Chợ đã tàn người cũng tàn vốn đã buồn chợ chiều nay càng buồn hơn. Âm thanh chợ tàn ấy vang vọng từ xa đến nơi đây. Từ “đâu” vang lên vừa như một âm thanh mơ hồ xa xôi vừa như một là tự hỏi âm thanh ấy từ đâu mà vang vọng lại.

Dấu hiệu của cuộc sống xuất hiện nhưng không tương vui giòn giã, thúc giục như bản hòa ca của cuộc sống mà im vắng. Nghệ thuật tiểu đối lại một lần nữa phát huy hiệu quả trong kết hợp đặc biệt “nắng xuống trời lên”. Nắng và trời bỗng chốc như tách rời nhau để mở rộng không gian. “Xuống” và “lên” là hai chiều hướng ngược nhau đặt trong cùng vế đối khiến cho không gian như được kéo dãn ra cùng với nỗi niềm của con người.

Có phải vì lẽ đó mà không gian trở nên “sâu chót vót”. Từ láy “chót vót” vốn được dùng để chỉ độ cao nhưng Huy Cận lại dùng từ láy này để gợi mở độ sâu. Phải chăng đây là một dụng ý nghệ thuật của thi nhân. Cách kết hợp ấy đã khiến không gian của bức tranh thiên nhiên Tràng giang như được đẩy ra hết mọi chiều kích của vũ trụ. Càng rộng, càng sâu, càng cao thì cảnh vật càng thêm vắng lặng. Nỗi buồn tựa hồ thấm đẫm trong cả không gian.

“Bèo dạt về đâu hàng nối hàng

Mênh mông không một chuyến đò ngang

Không cầu gợi chút niềm thân mật

Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”

Bức tranh thiên nhiên Tràng giang còn hiện lên với hình ảnh bèo được dùng để diễn tả số phận con người bấp bênh vô định. Và Huy Cận cũng dùng hình ảnh cánh bèo trong thơ mình để một lần nữa nhấn mạnh sự nhỏ bé bấp bênh của đời người. Bèo dạt không phải nương theo cơn sóng để sinh tồn là mặc cho cơn sóng xô đẩy. Không phải là một cánh bèo mà cả là một hàng. Hàng nối hàng nối tiếp nhau nhưng đau lòng hơn đó không là cuộc sống của một kiếp người mà là của một bộ phận không nhỏ thanh niên trong hoàn cảnh xã hội bế tắc đương thời.

Từ láy mênh mông đứng đầu dòng thơ diễn tả được sự rộng lớn bao la của không gian. Điệp từ “không” xuất hiện liên tiếp trong hai dòng thơ gợi sự vắng vẻ cô đơn tuyệt đối.  Thi nhân như từ chối mọi mối quan hệ, dường như tự cô lập mình với cuộc đời xung quanh và cũng đồng thời phủ nhận mối liên kết giữa người với người.

Chính vì không có mối liên kết nào mà con người đứng trước không gian rộng lớn dễ rơi vào trạng thái cô đơn. Từ láy lặng lẽ đứng đầu câu càng tăng thêm sự vắng lặng đến nao lòng của không gian. “Xanh”, “vàng” là những gam màu tươi sáng. Sự xuất hiện này điểm tô thêm những gam màu tươi sáng cho bức tranh thiên nhiên nhưng không xua đi được nỗi cô đơn giá băng của lòng người.

Bóng chiều cùng nỗi nhớ quê

Tiếp đến là khung cảnh thiên nhiên Tràng giang ở hai bên bờ, tầm mắt của thiên nhiên lại hướng lên trên và cũng như phóng tầm nhìn ra xa hơn nơi chân trời để thấy

“Lớp lớp mây cao đùn núi bạc

Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa”

Câu thơ mở đầu bằng từ láy “lớp lớp” diễn tả số lượng nhiều. Những đám mây như chất chồng chất đống vào nhau hết lớp này đến lớp khác. Huy Cận đã sử dụng tinh tế động từ “đùn”. “Đùn” không chỉ diễn tả sự chồng chất của đối tượng mà còn diễn tả được sức sống như đang căng tràn xô đẩy nhau, gợi được vẻ đẹp tráng lệ của thiên nhiên – núi mây khổng lồ được vạt nắng chiếu vào tạo thành hình ảnh núi bạc. Ta cũng từng bắt gặp từ đùn ấy trong ý thơ của Nguyễn Trãi

“Hòe lục đùn đùn tán rợp giương”

(Cảnh ngày hè – Nguyễn Trãi)

Giữa đám mây bao la là cánh chim nhỏ bé đối lập với không gian rộng lớn. Thế nhưng, giữa hai đối tượng không có từ liên kết như một khoảng trống giữa câu thơ gợi cho người đọc nhiều suy nghĩ. Bức tranh thiên nhiên Tràng giang còn thể hiện ở cánh chim như đang chở nặng bóng chiều, vì bóng chiều mà cánh chim bỗng trở nên nhỏ bé hơn? Hay vì cánh chim chao lượn như kéo cả bóng chiều? Dù hiểu theo cách nào ta vẫn thấy cánh chim cô đơn giữa một khoảng không mênh mang. Cánh chim bơ vơ l
ạc lõng hay chính lòng người cũng hoang mang tìm kiếm một điểm tựa.

Một khung cảnh thiên nhiên tráng lệ, hùng vĩ xuất hiện. Trên phông nền thiên nhiên là cả một tấm lòng dành cho đời.

“Lòng quê dợn dợn vời con nước

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”

Lòng quê chính là tình cảm thiêng liêng dành cho quê hương đất nước. Câu thơ gợi lên cảm giác xốn xang, không dứt, trở đi trở lại như một nỗi ám ảnh. Từ đó cho thấy tình yêu với đất nước quê hương như lan tỏa thấm đãn theo từng con nước. Nỗi nhớ vì vậy mà trở nên da diết hơn.

Thôi Hiệu nhìn thấy làn khói sóng mờ ảo trên sông mà nhớ đến quê nhà. Còn Huy Cận không cần một dấu hiệu gợi nhắc mà tình cảm ấy lại ùa về tràn ngập tâm hồn. Tiếng sóng của không gian biển lớn bao la hay chính là tiếng sóng lòng của nhà thơ, cuồn cuộn không nói nên lời.

Đây chính là nỗi niềm của một người đứng trên quê hương mà lại nhớ về quê hương. Và đó cũng là nguyên nhân sâu xa cũng nỗi cô đơn, sự bất lực trước thực tại. Liên hệ với hoàn cảnh thực tiễn đất nước lúc bấy giờ ta càng thấu hiểu thêm tâm trạng của thi nhân khi đứng trước cảnh sông dài trời rộng nhưng bến lại là bến bờ quạnh vắng cô liêu.

Giá trị nhân đạo và giá trị nghệ thuật của bài thơ

Bức tranh thiên nhiên Tràng giang được vẽ lên bởi những hình ảnh đơn sơ mộc mạc nhưng giàu sức gợi. Một thi hứng tưởng chừng quen thuộc trong thơ ca – nỗi buồn nhân thế trước cảnh trời đất cô liêu nhưng trong niềm cảm hứng của Xuân Diệu lại mang một vẻ đẹp rất riêng vừa quen thuộc lại vừa mang màu sắc riêng.

Bài thơ có sự vận dụng kết hợp nhuần nhị giữa bút pháp hiện đại và bút pháp cổ điển. Ẩn trong bức tranh thiên nhiên Tràng giang còn là bức tranh tâm trạng của thi nhân. Một nỗi buồn da diết nhẹ nhàng nhưng đầy ám ảnh trong từng câu từng chữ. Đó là nỗi sầu của cái tôi cô đơn trước vũ trụ rộng lớn bao la. Tuy nhiên le lói đâu đó ta vẫn thấy được một sự khát khao giao cảm hòa nhập với cuộc đời của thi nhân.

Bởi vậy bức tranh thiên nhiên Tràng giang nói riêng hay thiên nhiên trong Thơ mới nói chung, dẫu đẹp đến đâu nhưng vẫn đượm buồn. Đó là cái nét yên ắng, tách rời nhau trong những sự vật trên của thiên nhiên nhưng thực chất được gợi dậy từ một tâm hồn buồn trong lòng người thi nhân.

Nhà thơ của tập Lửa thiêng như chở nỗi sầu quá lớn, thậm chí là nỗi sầu của cả một thế hệ nên không gian trong thơ ông cứ nới rộng ra mà lòng người vẫn u uất. Không gian trong bức tranh thiên nhiên Tràng giang càng lớn thì con người càng nhỏ bé, cô đơn và lạc lõng.

Nhưng đằng sau những xúc cảm ấy, người đọc vẫn nhìn thấy những lắng đọng về tâm sự thầm kín của thi nhân. Huy Cận có lẽ phải yêu và gắn bó với mảnh đất quê hương lắm, mới nhìn đâu cũng thấy ám ảnh bởi nỗi buồn. Nhà thơ đứng trên đất quê mình, cảnh đẹp quê mình mà sao đâu đâu cũng thấy vắng lặng, tàn lụi. Bức tranh thiên nhiên Tràng giang còn được khơi dậy bởi nỗi nhớ nhà ở cuối bài thơ, giúp xóa nhòa cái cảm giác thiếu thốn ngay khi ở trên quê hương.

Kết bài: Khi cảm nhận bức tranh thiên nhiên Tràng giang, người đọc nhận ra bài thơ cũng chính là tiếng lòng của Huy Cận đối với cuộc đời này. Bức tranh thiên nhiên Tràng giang không tách biệt mà hòa cùng nỗi niềm của con người – một nỗi buồn vạn cổ. Giữa sự nhỏ bé của con người trước dòng đời, thi nhân cũng đã tìm thấy được bến đỗ, điểm tựa – đó chính là quê hương. Bài thơ đã khép nhưng dư âm của nó vẫn còn vang vọng mãi như những cơn sóng cứ xô mãi xô mãi vào lòng người đọc.

Bài văn mẫu: Cảm nhận bức tranh thiên nhiên trong bài Tràng giang

Huy Cận một trong những nhà thơ nổi bật nhất trong phong trào Thơ Mới. Tập thơ đầu tay của ông là Lửa thiêng đã ghi những dấu ấn sâu đậm trong lòng người đọc. Nổi bật nhất trong tập thơ ấy ta không thể không nhắc đến Tràng giang. Tác phẩm không chỉ là nỗi niềm cô đơn khắc khoải của nhân vật trữ tình mà dưới ngòi bút tài hoa của Huy Cận một thiên nhiên thật đẹp, thật buồn cũng hiện lên vô cùng ấn tượng, rõ nét.

Tác phẩm được gợi cảm hứng từ những con sông rộng lớn, mênh mông của đất nước. Đọc Tràng giang người ta cố công tìm kiến hình ảnh một con sông cụ thể lẩn khuất sau những câu chữ của Huy cận. Nhưng tuyệt nhiên không thể xác định được nó là con sông nào, ở đâu. Bởi con sông ấy ta có thể bắt gặp ở bất cứ đâu trên đất nước Việt Nam này, đó là con sông quê hương, con sông thương nhớ. Nhan đề bài thơ là Tràng giang, tức những con sông dài, sông lớn, như vậy không gian mênh mông sông nước chính là nơi khơi nguồn cảm hứng thi ca trong lòng Huy Cận.

Thiên nhiên trong Tràng giang là một thiên nhiên đẹp, đượm buồn và thẫm đẫm nỗi cô đơn. Mở đầu bài thơ là bức tranh thiên nhiên mang những nét cổ điển đặc trưng:

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp

Con thuyền xuôi mái nước song song

Thuyền về nước lại sầu trăm ngả

Củi một cành khô lạc mấy dòng

Khung cảnh mênh mông trời nước nối tiếp nhau mở ra, những con sóng nhỏ lăn tăn nối tiếp xô vào bờ, không gian mở được mở
rộng với từ láy “điệp điệp”. Trên mặt sông rộng mênh mông ấy con thuyền xuất hiện thật nhỏ bé, đơn độc, kết hợp với những cành củi khô trôi lặng lờ giữa dòng sông, khiến cho khung cảnh thiên nhiên lại càng trở nên buồn bã, đìu hiu hơn.

Sang đến khổ thơ thứ hai, điểm nhìn của Huy Cận đã có sự dịch chuyển, thi sĩ hướng mắt ra xa hơn và trước mắt ông là “Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu/ Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều/ Nắng xuống trời lên sâu chót vót/ Sông dài trời rộng bến cô liêu”. Vẫn là sông nước đấy thôi, nhưng tâm hồn thi sĩ đang cố gắng tìm kiếm trong không gian ảm đạm kia một chút hơi thở của sự sống ở nơi cồn nhỏ, ở tiếng chợ xa xa. Nhưng vẳng lại chỉ là sự nín thinh của vạn vật. Khổ thơ sử dụng hàng loạt các từ chỉ cái bé nhỏ: lơ thơ, cồn nhỏ kết hợp với các từ đìu hiu, cô liêu gợi nên hồn cốt sự vật đã làm nổi bật bức tranh phong cảnh buồn bã. Đọc câu thơ ta bất giác nhớ đến Chinh phụ ngâm: “Non kì quạnh quẽ trăng treo/ Bến thì gió thổi đìu hiu mấy gò”. Tuy thời thế thay đổi, tuy cách nhau cả trăm năm, nhưng cảnh ấy, tình ầy vẫn chẳng hề đổi thay. Vẫn là sự hiu quanh, vẳng vẻ đến nào long của tạo vật. Thiên nhiên đó còn có sự tĩnh lặng đến tuyệt đối, âm thanh chợ xa hư thực thực hư khó lòng có thể xác định nổi. Nếu âm thanh đó là thực thì có lẽ không gian đã phải yên ắng biết chứng nào, con người mới có thể nghe được như vậy. Rời tầm mắt, Huy Cận di chuyển lên cao, trời đất mênh mông, “sâu chót vót” càng khiến con người cô đơn, lạc lõng hơn. Bức tranh thiên nhiên mở rộng cả ba chiều: chiều rộng, chiều cao và chiều sâu đến vô cùng. Những sự vật vận động trái chiều nhau nắng xuống trời lên khiến không gian càng được mở rộng hơn nữa. Sử dụng từ “sâu chót vót” là một từ rất lạ, không phải là cao mà là sâu đã nhấn mạnh cái sâu không cùng của cảnh vật, màu xanh ngút ngàn của bầu trời khiến có cái gì đó rờn rợn ở trong lòng.

Bức tranh cô đơn, hiu quạnh tiếp tục được bổ sung ở khổ thơ thứ ba:

Bèo dạt về đâu hàng nối hàng

Mênh mông không một chuyến đò ngang

Không cầu gợi chút niềm thân mật

Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng

Những cành bèo lặng lờ trôi trên dòng sông mênh mông rộng lớn, với những bờ xanh lặng lẽ tiếp bãi vàng. Sự quạnh hiu qua mỗi khổ thơ lại càng rõ nét hơn. Đây không chỉ đơn thuần là sự cô quạnh của khung cảnh mà nó còn là sự cô đơn trong chính tâm hồn người thi sĩ. Nguyễn Du đã từng đúc kết: “Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu/ Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” cũng chính là vì lẽ đó. Cái nhìn của tâm trạng đã ảnh hưởng, đã thấm dần sang cảnh vật, khiến cho mọi vật trở nên ảm đạm, cô đơn như chính thân phận của người thi sĩ. Không gian thiên nhiên đó chính là không gian tâm trạng của nhân vật trữ tình.

Khổ thơ cuối bài thơ đã mở ra một bức tranh khác, hùng vĩ, tráng lệ:

Lớp lớp mây cao đùn núi bạc

Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa

Các lớp mây chồng xếp lên nhau thành từng tầng, từng bậc, đùn lên thành những núi mây bạc trắng xóa. Hòa cùng cái ráng chiều đỏ của hoàng hôn làm cho bức tranh diễm lệ, kì vĩ hơn bao giờ hết. Tương phản với sự hùng vĩ của thiên nhiên là cánh chim cô đơn, bé nhỏ đến đáng thương, tội nghiệp. Nhìn khung cảnh ấy lòng ông cũng không thôi nhớ về quê nhà: “Lòng quê dợn dợn vời con nước/ Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”.

Bức tranh thiên nhiên trong thơ Huy Cận đẹp mà thấm đẫm nỗi buồn, đó là nỗi buồn thê lương khắc khoải. Dù cuối bức tranh ấy có xuất hiện sự kì vĩ, mĩ lệ, nhưng chỉ là trong thoáng chốc, ngưng đọng ở bài thơ vẫn là nỗi cô đơn, lạc lõng thấm đầy trong từng cảnh vật.

Tràng giang là một bức tranh thiên nhiên đẹp đẽ, xinh xắn mà cũng thật độc đáo trong thơ ca Việt Nam. Đằng sau bức tranh ấy là nỗi nhớ quê hương khắc khoải, là tình yêu nước sâu đậm mà kín đáo của Huy Cận dành cho non sông, đất nước.

Vơi những chia sẻ chi tiết trên đây của PUD, các bạn đã có thể viết được bài văn Cảm nhận bức tranh thiên nhiên trong bài Tràng giang (Huy Cận) hay nhất. Đây cũng là nguồn tư liệu quý của các thầy cô trong quá trình giảng giải, phân tích bài thơ Tràng Giang.

  • Xem thêm >>> Cảm nhận bài thơ Tràng giang của nhà thơ Huy Cận

Trả lời

error: Content is protected !!