Kon Tum: UBND thành phố từ chối giải quyết quyền lợi của dân?

Diện tích đất của bà Tưởng, ông Lang đã bị giao cho người khác mà không hề có quyết định thu hồi và bồi thường đúng quy định.

Năm 1987, gia đình bà Trần Thị Kim Tưởng sinh năm 1947 và chồng là ông Nguyễn Văn Lang sinh năm 1929 hiện trú tại 176 – U rê – Phường Duy Tân – Thị xã Kon Tum (nay là 176 – U Rê – Phường Duy Tân – TP Kon Tum) và 23 hộ gia đình khác trong thị xã Kon Tum được UBND Thị xã Kon Tum cấp một lô đất diện tích 13.000m2 theo Quyết định số 739/QĐ-UB ngày 05/6/1987 do Phó Chủ tịch UBND thị xã Kon Tum Hoàng Văn Lâm ký, để làm kinh tế vườn theo chủ trương giãn dân của UBND Thị xã Kon Tum. Đến nay diện tích đất của bà Tưởng, ông Lang đã cấp cho người khác mà không có Quyết định thu hồi và bồi thường theo quy định; làm ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của gia đình bà; bà Tưởng viết đơn đề nghị xem lại Công văn số 2287UBND-NC của UBND tỉnh Kon Tum đã đúng với quy định hiện hành của Nhà nước chưa!?

Bà Tưởng đứng trước thửa đất của mình bị UBND tỉnh Kon Tum lấy cấp cho người khác làm nhà mà chưa có quyết định thu hồi.

Sau khi được cấp đất, vợ chồng bà Tưởng thuê máy súc san ủi mặt bằng, đào hố trồng hơn 1.000 cây cà phê và một số hộ khác đã làm nhà tạm để trông coi hoa màu. Cuối năm 1990 cán bộ của Sư đoàn 10 đến đặt vấn đề với gia đình bà cho mượn số đất còn lại chưa trồng cà phê trong 13.000m2 để làm bãi tập huấn luyện cho bộ đội, gia đình bà Tưởng là gia đình cách mạng, ông Lang là cán bộ tham gia kháng chiến chống Mỹ hơn 20 năm, khi nói đến bộ đội nhờ đất làm bãi tập, ông bà đồng ý ngay, không làm giấy tờ giao kèo gì.

Năm 2008, bà Tưởng đến Sư đoàn 10 hỏi xin lại số đất mà bộ đội mượn làm bãi tập thì được Sư đoàn 10 trả lời bằng công văn số 404/SĐ-PTM ngày 20/02/2016 do Phó Sư đoàn trưởng là ông Tống Bá Chúc ký. Nội dung công văn trả lời năm 2007, Sư đoàn đã bàn giao số đất 13.000 m2 của ông bà nằm trong 25 ha khu phi trường thuộc phường Thắng Lợi – TP Kon Tum cho tỉnh Kon Tum, sau đó UBND tỉnh Kon Tum giao cho UBND TP Kon Tum quản lý. Từ đó bà Tưởng nhiều lần làm đơn và lên gặp cán bộ UBND TP Kon Tum nhưng không được giải quyết.

Xem thêm: Thông tư 14/2014 Quyền lợi của dân sao không được xem xét giải quyết.

Căn cứ theo Luật đất đai 2013 – Nghị định số 45/2013/QH13 ngày 29/5/2013 của Nhà nước thì trường hợp của gia đình bà Tưởng nằm vào Điểm a, b, Khoản 1, Điều 100, cụ thể như sau:

  1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định mà có một trong các loại giấy tờ sau đây thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.
  2. a) Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất Giấy chứng nhận QSDĐ tạm thời trước ngày 15/10/1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam và nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

b). Giấy chứng nhận QSDĐ tạm thời được cơ quan nhà nứơc có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong Sổ đăng ký ruộng đất, Sổ địa chính trước ngày 15/10/1993.

Sau nhiều lần viết đơn kiến nghị thì ngày 29/10/2016, bà Trần Thị Kim Tưởng trú tại 176 – U Rê – TP Kon Tum nhận được Công văn số 2287/UBND-NC của UBND TP Kon Tum trả lời về nội dung khiếu nại lô đất của bà được cấp năm 2007 mà hiện nay UBND TP Kon Tum đã cấp cho người khác. Nội dung Công văn kết luận như sau: “Căn cứ vào kết quả làm việc, quá trình xác minh các bên có liên quan (Sư đoàn 10, bà Trần Thị Kim Tưởng) hồ sơ địa chính và giấy tờ có liên quan cho thấy: Sau khi được giao đất cho bà Trần Thị Kim Tưởng, ông Nguyễn Văn Lang không quản lý sử dụng từ những năm 1990 không thực hiện việc kê khai đăng ký với cơ quan Nhà nước, vị trí đất hiện nay không xác định được ngoài thực địa mà chỉ dựa vào lời khai của bà Trần Thị Kim Tưởng.

Trong quá trình Sư đoàn 10 quản lý sử dụng khu đất này để đóng quân, Sư đoàn không mượn đất của bà Trần Thị Kim Tưởng, bản thân gia đình bà Tưởng cũng không có đơn khiếu nại hay kiến nghị gì với các cơ quan liên quan. Từ khi UBND Tỉnh thu hồi đất của Sư đoàn 10 giao cho các tổ chức và UBND TP Kon Tum quản lý, bố trí sử dụng theo quy định không nhận được đơn thư phản ánh gì của nhân dân. Quá trình quản lý UBND TP Kon Tum đã quản lý, quy hoạch đầu tư cơ sở hạ tầng và giá đất ở đô thị cho hộ gia đình, cá nhân cũng không nhận được khiếu nại của bà Trần Thị Kim Tưởng. Nội dung khiếu nại của bà chỉ phát sinh khi cơ quan Nhà nước đi xác minh việc sang nhượng đất giữa bà với bà Đặng Thị Kim Anh.

Từ những cơ sở trên, căn cứ vào quy định tại Khoản 5, Điều 26 Luật đất đai 2013: “Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại đất đã được giao theo quy định của Nhà nước cho người khác sử dụng trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam”.

Căn cứ theo Luật đất đai 2013 – Nghị định số 45/2013/QH13 ngày 29/5/2013 của Nhà nước thì trường hợp của gia đình bà Tưởng nằm vào Điểm a, b, Khoản 1, Điều 100, cụ thể như sau:

  1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định mà có một trong các loại giấy tờ sau đây thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.
  2. a) Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất Giấy chứng nhận QSDĐ tạm thời trước ngày 15/10/1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam và nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

b). Giấy chứng nhận QSDĐ tạm thời được cơ quan nhà nứơc có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong Sổ đăng ký ruộng đất, Sổ địa chính trước ngày 15/10/1993.

Như vậy, đối chiếu với Luật đất đai quy định hiện hành thì gia đình bà Tưởng hoàn toàn có đủ điều kiện xin lại lô đất trên.

Để thực hiện nghiêm túc pháp luật nhà nước theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. Tòa soạn đề nghị UBND TP Kon Tum xem xét, áp dụng đúng Luật đất đai để tránh thiệt hại cho người dân và giảm bớt tình hình khiếu kiện, gây mất an ninh trật tự địa phương.

Nhóm PVPL Tây Nguyên/KD&PL