Phân tích 8 câu đầu bài Việt Bắc của tác giả Tố Hữu – Ngữ văn 12 

Phân tích 8 câu đầu bài Việt Bắc của tác giả Tố Hữu – Ngữ văn 12 

Phân tích 8 câu đầu bài Việt Bắc của Tố Hữu để thấy lời nhắn gửi của người ở lại, tâm trạng của người ra đi cùng những tình cảm gắn bó trong buổi chia ly ấy…Tình cảm sâu nặng, sự luyến lưu của người đi, kẻ ở đã được diễn tả trong 8 câu đầu. Cùng PUD phân tích chi tiết hơn qua bài viết sau đây nhé !

Giới thiệu vắn tắt về tác giả, tác phẩm

Đôi nét về tác giả

Tố Hữu (sinh năm 1920 – mất năm 2002), tên khai sinh là Nguyễn Kim Thành, quê ở Huế. Chính vùng đất thơ mộng, trữ tình ấy đã giúp bồi đắp hồn thơ Tố Hữu trở nên dạt dào, tha thiết. Không chỉ vậy, Tố Hữu còn được sinh ra trong một gia đình nhà Nho giàu truyền thống văn chương. Ông được học làm thơ theo lối cổ từ người bố của mình, đây chính là nền tảng để giúp ông có những bước đi vững chắc trong thơ ca. Tố Hữu cũng là một cái tên xứng đáng với sự vinh danh ở Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (1996).

Tố Hữu là một nhà thơ chiến sĩ. Khi viết thơ, ông luôn thể hiện được sự thống nhất giữa tuyên truyền cách mạng và cảm xúc trữ tình. Trong thơ ông, những nhân vật xuất hiện thường mang tư tưởng chính trị. Một đặc điểm khác trong thơ Tố Hữu nữa là có sự kết hợp giữa khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn. 

Bên cạnh việc thể hiện những vấn đề cốt yếu của đời sống, hướng đến lẽ sống lớn, tình cảm lớn và niềm vui lớn, con người mang tầm vóc sử thi, Tố Hữu luôn mong muốn người đọc sẽ cảm nhận được niềm lạc, quan, niềm tin tưởng vào cách mạng và sự lãnh đạo của Bác. Ngoài những đặc điểm trên, trong thơ Tố Hữu ta thường cảm nhận được giọng tâm tình, ngọt ngào, tha thiết và bắt gặp hình ảnh con người Việt Nam, tình cảm Việt Nam trong thời đại mới nhưng có sự tiếp nối với truyền thống tốt đẹp của dân tộc.

Hoàn cảnh ra đời bài thơ Việt Bắc

Bài thơ “Việt Bắc” gắn với một sự kiện lịch sử hết sức trọng đại của đất nước. Sau khi hiệp định Giơ-ne-vơ về Đông Dương được kí kết vào tháng 7 năm 1954, hòa bình bắt đầu lặp lại và miền Bắc bước vào những tháng ngày sau giải phóng. Do đó, Trung Ương và chính phủ đã rời chiến khu Việt Bắc để trở về Hà Nội vào tháng 10 năm 1954. 

Đây không chỉ là sự kiện mang tính chất lịch sử mà còn là sự kiện dẫn đến cuộc chia tay tập thể giữa người miền xuôi và người miền núi, giữa những người chiến sĩ, cán bộ với đồng bào. Trước hoàn cảnh chia tay ấy, cả người đi và kẻ ở đều không giấu được những tâm trạng quyến luyến, vương vấn và Tố Hữu chính là người đã dùng những dòng thơ của mình để viết nên những tâm tư ấy.

Phân tích 8 câu đầu bài Việt Bắc của tác giả Tố Hữu 

Lời nhắn gửi của người ở lại với người đi

Mở đầu bài thơ, người ở lại đã dành cho người ra đi lời nhắn gửi rất chân tình:

“Mình về mình có nhớ ta

Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.

Mình về mình có nhớ không

Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?”

Người ở lại hỏi “mình về mình có nhớ ta” và ta nghe trong câu hỏi ấy hiển hiện một nỗi buồn rõ rệt. Làm sao không buồn khi người đi và kẻ ở đã có một khoảng thời gian gắn bó với nhau đến tận “mười lăm năm”. Khoảng thời gian diễn ra cuộc kháng chiến chống Pháp đầy những cam go và thách thức đối với cả quân và dân ta.

Nhưng cũng trong những cam go và thách thức ấy, quân và dân đã có dịp kề vai sát cánh, chia ngọt sẻ bùi để làm điểm tựa cho nhau, giúp nhau vượt lên những trên những tổn thương, đau đớn và cả những mất mát xảy ra trong chiến tranh. Thế nên mới nói đó là khoảng thời gian mười năm “thiết tha”“mặn nồng” để rồi cách xưng hô “mình – ta” rất gần gũi, khắng khít ấy. Tất cả đã nói lên hết mức độ sâu đậm trong tình cảm của cả người đi và kẻ ở. 

Khi phân tích 8 câu đầu bài Việt Bắc, ta thấy “cây”-“núi”, “sông”-“nguồn” đều là những cặp hình ảnh mang ý nghĩa tượng trưng cho gốc rễ và ngọn nguồn của cách mạng, là cái nôi của kháng chiến. Vì thế
cho nên người ở lại mới ướm hỏi các anh chiến sĩ, các cán bộ cách mạng liệu rằng khi về dưới xuôi rồi thì họ có nhớ những kỉ niệm ở vùng quê cách mạng này chăng. Trong đoạn thơ trên, từ
“nhớ” được điệp lại nhiều lần bên cạnh mục đích muốn hỏi về tình cảm của người về dành cho Việt Bắc thì đó còn là một lời khẳng định về tình cảm nhớ thương của kẻ ở lại đối với người ra đi.

Tâm trạng bịn rịn của người ra đi với người Việt Bắc

Khi nghe người ở lại ướm hỏi như thế, người ra đi đã cảm nhận được trong lòng mình những tâm trạng, nỗi niềm chất chứa:

 “Tiếng ai tha thiết bên cồn

Bâng khuâng trong dạ bồn chồn bước đi”

Lời hỏi của người ở lại nghe sao thật “tha thiết”, chân thành. Thực tế cho thấy khoảng thời gian người chiến sĩ ở bên đồng bào, cùng với đồng bào Việt Bắc trải qua biết bao những năm tháng đồng cam cộng khổ, tình cảm của họ ngày một thêm gắn bó. Phân tích 8 câu đầu bài Việt Bắc, ta thấy với ngần ấy năm sống và gắn bó bên nhau đã giúp cho người chiến sĩ và nhân dân có cơ hội được đồng cảm, thấu hiểu nhau. 

Chỉ nghe câu hỏi của người ở lại thôi, người đi cũng có thể cảm nhận được nỗi lòng, tình cảm của người ở lại dành cho người đi lớn lao và sâu đậm đến nhường nào. Có lẽ, trong thâm tâm của những người đồng bào ở Việt Bắc, những anh chiến sĩ, những người bộ đội không khác gì là những người thân trong gia đình, sợi dây gắn kết mối liên hệ của họ không chỉ đơn thuần là tình cảm quân – dân nữa mà còn là tình thân, tình cảm của những người máu mủ, ruột thịt…

Chính vì vậy, khi cảm nhận được tình cảm ấy của đồng bào Việt Bắc dành cho mình, người đi đã nghe được sự “bâng khuâng”, “bồn chồn” trong lòng. Do thế, dù chân bước đi nhưng đó lại là bước đi bần thần, nặng nề vì tâm trạng đang rối ren, quyến luyến.

Hình ảnh người đi kẻ ở trong hoàn cảnh chia tay

Phân tích 8 câu đầu bài Việt Bắc, người đọc nhận thấy dù ngập ngừng như thế nào, có bịn rịn và quyến luyến ra sao thì cũng không thể kéo dài thêm thời gian được ở lại Việt Bắc. Chính vì thế cảnh chia tay dù không mong muốn thì cũng đã đến lúc xảy ra khiến cho người đi, kẻ ở không khỏi xót xa:

“Áo chàm đưa buổi phân li

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…”

Trong những câu thơ trên, tác giả đã hoán dụ hình ảnh “áo chàm” để chỉ về nhân dân ở Việt Bắc. Màu “áo chàm” là màu áo quen thuộc của con người nơi đây. Trong tâm trí người cán bộ, hình ảnh người Việt Bắc thường ngày vẫn khoác lên màu áo đó đã để lại những ấn tượng vô cùng sâu đậm. 

Cách gọi “áo chàm” thay cho việc gọi tên trực tiếp người Việt Bắc đã cho thấy người cán bộ, chiến sĩ quý nhân dân như thế nào, đặc biệt là trân trọng sự bình dị trong cả đời sống và tâm hồn của người dân nơi đây. Có lẽ sau này dù đi đâu về đâu, thì những anh bộ đội sẽ nhớ mãi màu áo ấy và những con người ấy. 

Khi phân tích 8 câu đầu bài Việt Bắc, ta nhận ra hình ảnh “cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…” hiện lên thật cảm động. Lời nói, ngôn ngữ trong giây phút chia tay đã trở nên vô hiệu hóa, còn biết nói gì, làm gì hơn nữa. Chỉ cần cái “cầm tay” là đủ thấy sự chân thành, nồng ấm và chính cách thể hiện chân thành, nồng ấm đó đã thay cho tất cả mọi lời có thể nói ra trong giờ phút từ biệt. Cái tình đã cảm, cái nghĩa đã thấu, thôi thì xin gói lại tất cả những kỉ niệm, những hình ảnh tốt đẹp về nhau cất vào trong tim. 

Có lẽ dù xa cách nhưng chỉ cần người đi kẻ ở vẫn dành một góc trong tim để nhớ về nhau đã là điều đáng quý. Câu thơ được tác giả bỏ lửng đã diễn đạt rất hiệu quả thái độ xúc động, nghẹn ngào, ngập ngừng của người chiến sĩ khi phải giã từ Việt Bắc để về xuôi. Phân tích 8 câu đầu bài Việt Bắc, ta nhận ra dù câu cuối chỉ miêu tả hành động, dù không dẫn dắt ra một lời nói nào nhưng lại thể hiện được chiều sâu của của tất cả những cảm xúc đang chất chứa trong lòng của người đi và kẻ ở.

Nhận xét khi phân tích 8 câu đầu bài Việt Bắc của Tố Hữu

Phân tích 8 câu đầu bài Việt Bắc, ta nhận thấy Tố Hữu đã giúp người đọc hình dung được cảnh chia tay đầy lưu luyến và xúc động giữa người đi và kẻ ở. Để thể hiện được khung cảnh xót xa và bịn rịn ấy, Tố Hữu đã sử dụng những từ ngữ rấ
t gợi về thời gian, không gian và cả cảm xúc của người đi lẫn kẻ ở. Bên cạnh đó, bằng việc sử dụng cặp đại từ
“mình – ta”, thể thơ lục bát rất quen thuộc của ca dao và biện pháp hoán dụ đặc sắc, cuộc chia tay chan chứa ân tình giữa đồng bào Việt Bắc và cán bộ về xuôi không khỏi khiến người đọc xót lòng và cảm động.

Kết bài: Tóm lại, những câu thơ đầu của “Việt Bắc” đã bộc lộ phần nào chất chiến sĩ, thi sĩ của Tố Hữu. Những dòng thơ được viết nên không chỉ bằng cảm hứng lãng mạn mà còn bắt nguồn từ tình cảm chính trị, cụ thể hơn trong đoạn thơ trên nói riêng và toàn bài thơ “Việt Bắc” nói chung, tình cảm chính trị ấy chính là tình quân – dân nồng ấm. Dù đoạn thơ được thể hiện như một lối đối đáp giao duyên của nhân vật trữ tình và mang sắc thái tâm trạng buồn bã của sự chia tay nhưng đó lại là sự chia tay chất chứa niềm hi vọng về một sự hội ngộ ở một tương lai mới, tươi đẹp hơn. 

Bài văn mẫu: Phân tích 8 câu đầu bài Việt Bắc của Tố Hữu 

Tố Hữu là một trong những nhà thơ lớn của dân tộc. Ông là một tượng đài về thể thơ lục bát. Nhắc tới ông, người đọc liền nghĩ ngay tới “Việt Bắc” – một bản tình ca dạt dào cảm xúc để lại trong lòng người đọc một cảm xúc khó diễn tả được. Mỗi câu thơ như vẽ ra một khung cảnh rất đỗi bình dị của quê hương, đất nước, con người mà nơi ấy ân nghĩa, sự thủy chung như làm điểm nhấn nổi bật trên tất cả. Bài thơ “Việt Bắc” cũng thể hiện tính dân tộc sâu sắc.

“Việt Bắc” được sáng tác vào tháng 10/1954, ngay sau khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp vừa kết thúc thắng lợi, các cơ quan trung ương của Đảng và Chính phủ từ Việt Bắc về lại thủ đô Hà Nội. Tố Hữu cũng là một trong số những cán bộ kháng chiến từng sống gắn bó nhiều năm với Việt Bắc, nay từ biệt chiến khu để về xuôi. Bài thơ được viết trong buổi chia tay lưu luyến đó.

Tính dân tộc được thể hiện ở hai phương diện, nội dung và hình thức. Trước hết về mặt nội dung bài thơ thể hiện ở những khía cạnh sau, hình ảnh chiếc “áo chàm” rất đỗi giản dị, tự nhiên:

“Áo chàm đưa buổi phân li
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”

“Áo chàm” là hình ảnh hóan dụ cho người dân Việt Bắc anh hùng nhưng chân thực. Câu thơ như đang ca ngợi tình người của con người Việt Nam. Từ những con người xa lạ không quen biết, chiến tranh đã kéo đẩy họ lại gần với nhau để giờ đây kỉ niệm tưởng chừng ngắn ngủi như lại dài đằng đẵng ấy vô thức còn đọng lại trong tâm trí của họ. Bài thơ là cuộc đối thọai “mình – ta” vừa ngọt ngào, vừa sâu lắng:

“Mình về mình có nhớ ta
Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.
Mình về mình có nhớ không
Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?”

Khỏang thời gian 15 năm xảy ra biết bao nhiêu biến cố, thăng trầm của lịch sử để cho tình nghĩa giữa chiến sĩ và người dân Việt Bắc ngày một gắn bó keo sơn.

Bên cạnh đó, hình ảnh chiến sĩ cách mạng hiện lên cũng rất chân thực, mang đậm tính dân tộc. Trong giờ phút chia ly, họ bịn rịn không nỡ rời xa:

“Tiếng ai tha thiết bên cồn
Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi
Áo chàm đưa buổi phân li
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”

Chỉ một cái “cầm tay” nhưng sao khó nói nên lời tới vậy. Cầm tay như truyền them cả sức mạnh, cả hơi ấm của người ở lại cho người ra đi. Họ một lòng một dạ thủy chung son sắt:

“Ta với mình, mình với ta
Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh
Mình đi, mình lại nhớ mình
Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu”

Hình ảnh “mình” lặp đi lặp lại mang dụng ý của tác giả. Người chiến sĩ và người dân Việt Bắc họ như hòa quyện lại làm một không phân biệt rạch ròi được. Ân nghĩa sâu nặng giữa họ không thể đong đếm. Rời xa Việt Bắc người chiến sĩ mang trong mình bao nỗi nhớ, nhớ về thiên nhiên hùng vĩ, nhớ về tình người Việt Bắc. Tuy nhiên họ vẫn giữ tinh thần lạc quan, yêu đời.

Song song với hình ảnh con người, hình ảnh thiên nhiên trong bài thơ Việt Bắc cũng hiện lên cũng mang đậm tính dân tộc. Bức tranh tứ bình đã được ngòi bút của Tố Hữu tô vẽ thêm thắt một cách sinh động và hấp dẫn, lôi cuốn:

“Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Ðèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.
Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang
Ve kêu rừng phách đổ vàng
Nhớ cô em gái hái măng một mình
Rừng thu trăng rọi hòa bình
Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”

Con người và thiên nhiên như hòa quyện lại với nhau. Thiên nhiên làm nền cho sự xuất hiện của con người. Nếu như câu lục là thiên nhiên thì câu bát là sự xuất hiện của con người. Tưởng chừng như hai hình ảnh này không liên quan đến nhau nhưng không phải như vậy. Mà con người tô điểm cho thiên nhiên thêm đẹp, thêm rực rỡ hơn. Con người xua đi cái lạnh giá của thiên nhiên, hòa mình vào với thiên nhiên để làm những công việc thường ngày nhưng hết sức đẹp đẽ, nên thơ.

Việt Bắc trong thơ Tố Hữu còn hiện lên với những địa danh lịch sử hào hùng, tráng lệ: Tân Trào, Hồng Thái, Ngòi Thia sông Đáy, sông Lô, Núi Hồng….

Có thể thấy, cảnh và người trong bài thơ Việt Bắc hiện lên rất thân thương giản dị mà giàu tình người, đậm đà tính dân tộc sâu sắc.

Tính dân tộc thể hiện sâu sắc nhất ở mặt hình thức. Một là, thể thơ lục bát truyền thống với kết cấu lời đối đáp của đôi trai gái, giữa kẻ ở lại và người về xuôi. Lục bát là thể thơ dân tộc nó đã quá quen thuộc với mỗi người dân Việt Nam. Trong bài thơ, tác giả đã sử dụng ngôi xưng “mình-ta” để bộc lộ hết tâm tư tình cảm của mình:

“Mình về mình có nhớ ta
Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.
Mình về mình có nhớ không
Nhìn cây n
hớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?”

Tính dân tộc còn được thể hiện ở phương diện ngôn ngữ, nhạc điệu: Ngôn ngữ vừa giản dị, gần gũi với đời thường lại dễ thuộc, dễ nhớ kết hợp với nhạc điệu uyển chuyển, nhẹ nhàng có lúc thủ thỉ, tâm tình, lúc thì đằm thắm mượt mà lúc lại ngọt ngào êm dịu.

“Mình đi, có nhớ những ngày
Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù
Mình về, có nhớ chiến khu
Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai?
Mình về, rừng núi nhớ ai
Trám bùi để rụng, măng mai để già”

Ngòai ra, hình ảnh thơ cũng thấm nhuần tính dân tộc. Ta từng bắt gặp nhiều hình ảnh giản dị trong thơ của các nhà thơ khác nhưng với thơ Tố Hữu ta lại thấy nó rất tự nhiên, thỏai mái lại rất tinh tế: Hình ảnh “trám bùi”, “măng mai”. “trăng”, “nắng”, “bản”… gần gũi biết bao!!

Tóm lại, bài thơ “Việt Bắc” – đỉnh cao của văn học Việt Nam và cũng là bài thơ để đời của Tố Hữu. “Việt Bắc” là khúc ca về thiên nhiên, con người Việt Bắc, là tiếng hát ân nghĩa thủy chung son sắt của người cách mạng với người dân Việt Bắc, là tình yêu, tình thương của Tố Hữu dành cho Việt Bắc. Bằng ngôn ngữ giản dị, gắn liền với đời thường kết hợp với thủ pháp nghệ thuật như lặp từ, hóan dụ.. đã lột tả được nỗi nhớ da diết của tác giả với mảnh đất đầy kí ức và kỉ niệm. Song song với đó, thể thơ lục bát kết hợp một cách nhuần nhuyễn đã đưa đẩy cảm xúc của Tố Hữu lên đỉnh cao để có thể sáng tác ra được một bài thơ tuyệt vời đến như vậy. Và “Việt Bắc” là một bài thơ thể hiện đậm đà tính dân tộc.

Bài viết trên đây PUD đã chia sẻ cùng bạn đọc những phân tích chi tiết cũng như bài văn mẫu khi Phân tích 8 câu đầu bài Việt Bắc của tác giả Tố Hữu. Hi vọng bài viết này hữu ích với các bạn. Chúc các ạn học tốt nhé !

  • Xem thêm: Phân tích tính dân tộc trong bài Việt Bắc của Tố Hữu

Trả lời

error: Content is protected !!