Phân tích bức tranh tứ bình trong Việt Bắc – Tố Hữu [BÀI VIẾT HAY]

Phân tích bức tranh tứ bình trong Việt Bắc – Tố Hữu [BÀI VIẾT HAY]

Bức tranh tứ bình trong Việt Bắc của Tố Hữu hiện lên thật sinh động với vẻ đẹp 4 mùa: xuân, hạ, thu, đông. Tranh tứ bình là một trong những loại hình rất phổ biến trong nghệ thuật thơ văn trung đại. Nó thường là một bộ tranh gồm bốn bức mô tả bốn mặt của một đối tượng nào đấy. Vì vậy, tự nó đã có ý nghĩa hoàn chỉnh. Hãy cùng PUD phân tích bức tranh tứ bình trong bài thơ Việt Bắc qua bài viết dưới đây nhé !

Giới thiệu sơ lược về tác giả, tác phẩm

Đôi nét về tác giả Tố Hữu

Nhà thơ Tố Hữu được yêu mến bởi chất thơ rất riêng đầy sức sáng tạo. Với 6 tập thơ tiêu biểu như Từ ấy, Việt Bắc, Gió lộng, Ra trận, Máu và hoa, Một tiếng đờn đều gắn liền với những chặng đường lớn của cách mạng Việt Nam. Có lẽ thế mà thơ ông được ví như cuốn biên niên sử bằng thơ của cách mạng dân tộc. Ông đã hoàn chỉnh phong cách thơ của riêng mình, một cuộc đời thơ của mình mà không thể lẫn với bất kỳ ai.

Giới thiệu bài thơ Việt Bắc

Bài thơ Việt Bắc được xem là đỉnh cao của tác giả. Hoàn cảnh sáng tác bài thơ là nhân sự kiện chiến dịch Điện Biên phủ thắng lợi, Trung ương Đảng và Chính phủ rời chiến khu từ Việt Bắc về thủ đô, Tố Hữu đã viết Việt Bắc.

Tác phẩm là một bức tranh trữ tình mà hoành tráng, bao quát cả một diện lớn về thời gian suốt 15 năm, với một không gian rộng lớn là toàn bộ Việt Bắc.

Khi phân tích bức tranh tứ bình trong Việt Bắc, ta thấy tác giả đã miêu tả được một cách toàn diện cũng như thâu tóm được những gì là đặc trưng nhất. Nhà thơ Tố Hữu sử dụng lối vẽ tranh tứ bình rất nhuần nhuyễn trong nhiều bài thơ, đoạn thơ này được xem là bộ tranh tứ bình tứ quý về hoa và người trong 4 mùa của Việt Bắc.

Phân tích bức tranh tứ bình trong Việt Bắc – Tố Hữu

Phân tích bức tranh tứ bình trong Việt Bắc qua hình ảnh mùa đông

Mở đầu với một hình ảnh mang tính khái quát, trong đó Việt Bắc hiện lên như một miền quê thật đẹp xiết bao:

“Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

Đèo cao nắng ánh dao cài thắt lưng”

Gam màu cơ bản của bức tranh chính là màu xanh. Đó là một màu xanh mênh mang mà trầm tĩnh của rừng già. Nó gợi lên một miền quê êm đềm và tĩnh lặng. Thế nhưng trên cái nền xanh ấy, chúng ta nhìn thấy hoa chuối đỏ tươi, bập bùng cháy như những bó đuốc. Nếu ai đã biết hoa chuối nở, sẽ thấy rằng nhà thơ chỉ viết hai chữ “đỏ tươi” nhưng cũng đủ gợi cho ta thấy hoa chuối đã làm sáng lên cả một góc rừng. Chính loài hoa đơn mộc bình lặng này lại khiến cho cảnh rừng trở nên sống động hơn.

Bên cạnh đó, hoa chuối lại được tổ điểm bởi những tia nắng ở câu thứ hai càng làm cho không khí vốn trầm mặc của nơi này trở nên linh động và tươi sáng hơn. Trên cảnh nền ấy, hình ảnh con người xuất hiện “đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng”. Người đứng trên đỉnh đèo cao, ánh nắng chiếu vào lưỡi da trên thắt lưng làm lóe sáng. Hình ảnh này gợi lên tư thế vững chãi và sự tự tin của người làm chủ thú rừng. Thơ Tố Hữu thương mô tả con người trong tư thế ấy, bài thơ “Lên Việt Bắc” được nhà thơ ghi lại:

“Rất đẹp hình anh lúc nắng chiều.

Bóng dài trên đỉnh dốc cheo leo”.

Cũng là một hình ảnh ấy, thế nhưng ở đoạn thơ trên nhà văn đã viết trong 4 câu thơ 28 chữ, còn ở bài Việt Bắc thì dường như nhà thơ đã cô đọng hơn vào 8 chữ. Tố Hữu không đi vào vẽ kĩ mà chỉ chấm phá vài nét song cũng đủ cho ta hình dung khá rõ về hình tượng. Như thế, tương ứng với một cảnh hoa là một dáng điệu của con người mà mỗi dáng điệu ấy lại toát lên phẩm chất cao quý của người Việt Bắc.

Thiên nhiên Việt Bắc trong hai câu thơ trên đã mở ra khiến cho người đọc ngẩn ngơ, bởi vẻ đẹp rất trữ tình của núi rừng Tây Bắc nơi đây. Những bông hoa chuối đỏ tươi nở ra rực rỡ giữa mùa đông lạnh giá làm cho khung cảnh thiên nhiên tuy lạnh giá nhưng lại vô cùng sinh động và ấm áp lòng người bởi sắc đỏ của hoa chuối rừng chính nét quyến rũ rất riêng. Hình ảnh người con gái đi hái măng, lấy nấm với con dao sắc nhọn là công cụ làm việc đã thể hiện được sự sinh động của con người trong công việc thường nhật của mình.

Ánh nắng của mùa đông đã làm cho không khí trở nên ấm áp hơn bao giờ hết, không phải là màu u ám, ảm đạm mà chúng ta thường thấy trong những bài thơ khác miêu tả về mùa đông. Mùa đông trong thơ của Tố Hữu vẫn đẹp, vẫn sinh động hấp dẫn lòng người hơn bao giờ hết.

Bức tranh mùa xuân trong bộ tranh tứ bình của Tố Hữu

Phân tích bức tranh tứ bình trong Việt Bắc thì hình ảnh về mùa xuân tươi đẹp khiến tâm hồn m
ỗi chúng ta cảm thấy xao xuyến. Bức tranh thứ hai này tiếp tục được nhà thơ mở ra với những nét chấm phá tiêu biểu.
Trong hai câu thơ này, Tố Hữu đã khéo léo và linh hoạt chuyển đổi thời gian từ mùa đông sang mùa xuân. Từ hình ảnh hoa chuối rừng đỏ tươi rực rỡ sang sắc hoa mơ trắng trong tinh khiết, thể hiện không khí mùa xuân đang ngập tràn trên mảnh đất Tây Bắc.

“Ngày xuân mơ nở trắng rừng

Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang”.

Đến đây, nền xanh trầm tĩnh đã nhường chỗ cho nền trắng tinh khiết của hoa mơ rừng. Hai từ “trắng rừng” khiến cảnh rừng như bừng sáng. Hoa mơ là dấu hiệu báo trước khi mùa xuân tới ở nơi đây, bởi loại hoa này thường chỉ ra vào mùa xuân, giống như hoa đào và hoa mai. Hình ảnh về một rừng hoa mơ trắng thơm ngát quyến rũ, làm say đắm lòng người được gợi mở trong câu thơ làm cho người đọc ngây ngất trước cảnh đẹp của thiên nhiên. Hình ảnh người con gái chuốt từng sợi giang để làm dây gói bánh chưng, bánh tét, làm nón lá khiến cho không khí mùa xuân trở nên gần gũi ấm áp hơn bất kỳ lúc nào.

Ta nhận thấy rằng đây là hình ảnh có sức ám ảnh lớn đối với hồn thơ Tố Hữu. Bởi Việt Bắc trong nỗi nhớ của Tố Hữu dường như không thể thiếu sắc hoa này. Sau này, trong tác phẩm “theo chân Bác”, nhà thơ cũng đã viết:

“Ôi sáng xuân nay, xuân 41

Trắng rừng biên giới nở hoa mơ

Bác về. Im lặng. Con chim hót

Thánh thót bờ lau vui ngẩn ngơ”.

Trong cái nền cảnh ấy, hiện lên con người Việt Bắc với những công việc thầm lặng “Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang”. Hai chữ “chuốt từng” gợi ra biết bao sự cần mẫn, cẩn trọng và tài hoa. Không biết người đan nón kia gửi gắm từng sợi giang nỗi niềm gì?.

Phân tích bức tranh tứ bình trong Việt Bắc qua nét đẹp mùa hạ

“Ve kêu rừng phách đổ vàng

Nhớ cô em gái hái măng một mình”.

Trong những bức họa trên, chúng ta mới thấy được đường nét, màu sắc và ánh sáng. Đến đây, ta nghe thấy tiếng âm thanh của rừng, đó là tiếng nhạc ve. Chính nhạc ve đã làm mọi thứ trở nên xao động. Phải nói rằng trong các bức tranh tứ bình ở đây thì mùa hè Việt Bắc là đặc sắc hơn cả. Ve kêu gọi hè đến, hè về làm cho những rừng hổ phách ngả sang vàng. Ai đã từng lên Việt Bắc, dễ thấy những hình ảnh kỳ lạ của rừng phách. Phân tích bức tranh tứ bình trong Việt Bắc, những nét đẹp của mùa hạ tươi vui cũng là những ấn tượng sâu đậm lưu giữ trong tâm trí chúng ta.

Mùa hè của sự sôi động, nó khác hẳn với sự ấm áp của mùa đông cũng như sự tinh khôi của màu xuân. Khi mùa hè tới thì rừng núi Việt Bắc râm ran tiếng ve kêu, màu vàng của hổ phách kết hợp với tiếng ve khiến cho thiên nhiên nơi đây. Tiếng ve đã phá vỡ sự tĩnh lặng và thể hiện sự chuyển biến thời gian mạnh mẽ.

Trong những ngày cuối cùng của mùa xuân, những cây phách vẫn là màu xanh, nụ hoa vẫn náu kín trong những chiếc lá. Nhưng khi những tiếng ve đầu tiên của mùa hạ cất lên thì chúng đồng loạt trổ hoa vàng. Chỉ đôi ba ngày cũng đủ khiến rừng phách trổ hoa vàng ruộm thật đẹp. Nhà thơ đã sử dụng chữ “đổ” cũng thật tinh tế và đặc sắc. Nó đã nhấn mạnh đến tính mau lẹ trong sự biến chuyển của màu sắc, đồng thời cũng diễn tả những trận mưa hoa vàng rừng phách mỗi khi có một luồng gió ào qua.

Rõ ràng, gam màu đến đây đã thay đổi hẳn, sắc trắng đã nhường chỗ cho sắc vàng nổi bật. Và dường như, âm thanh đã làm thay đổi màu sắc. Trong phông cảnh ấy, hình ảnh người lao động xuất hiện đầy kiên nhẫn – đó là cô gái Việt Bắc đang hái măng một mình. Hình ảnh này trong thơ Tố Hữu đã làm tốt lên dáng điệu chịu thương chịu khó, hay lam hay làm giàu sức hy sinh của những cô gái nơi đây.

Nét đẹp mùa thu trong bộ tranh tứ bình của Tố Hữu

“Rừng thu trăng rọi hòa bình

Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”

Bộ tranh tứ bình kết thúc bằng bức tranh thu. Ba bức tranh trên là cảnh ngày, riêng bức tranh mùa thu này lại là cảnh đêm. Bức tranh gợi lên ánh trăng rọi qua vòm lá tạo thành một khung cảnh huyền ảo “Rừng thu trăng rọi hòa bình”. Nó đã khiến ta nhớ đến một câu thơ cũng viết về đêm rừng Việt Bắc của Hồ Chí Minh: “Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa”.

Có thể thấy, hình ảnh mùa thu trên núi rừng Việt Bắc thật dịu dàng, nên thơ và trữ tình với hình ảnh ánh trăng hòa bình thể hiện sự tròn đầy và chung thủy trước sau như một của người dân nơi đây với cách mạng.

Đây đúng là khung cảnh trữ tình dành cho những cuộc hát giao duyên, cho nên nó là cảnh cuối cùng. “Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung” – chữ “ai” là cách nói bóng gió, ám chỉ người đang hát cùng với mình, làm cho lời lẽ trở nên tinh tế và tinh tứ hơn. Qua tiếng hát ấy, ta cũng thấy được phẩm chất chung thủy và ân tình của người Việt Bắc. Bức tranh mùa thu Việt Bắc đã làm hoàn chỉnh bức tranh tuyệt mỹ của núi rừng. Vì thế, phân tích bức tranh tứ bình trong Việt Bắc, ta không thể quên lưu tâm đến những nét đẹp của mùa thu.

Bài văn mẫu: Phân tích bức tranh tứ bình trong Việt Bắc

“Việt Bắc” – bài thơ lục bát mang tầm vóc một trường ca dài 150 câu thơ, cảm xúc dâng lên mênh mông dào dạt. Bài thơ ra đời vào tháng 10 năm 1054, ngày giải phóng Thủ đô Hà Nội. Qua bài thơ, Tố Hữu nói lên một cách thiết tha mặn nồng mối tình Việt Bắc, mối tình cách mạng và kháng chiến.

Đoạn thơ 10 câu dưới đây trích từ câu 43 đến câu 52 trong bài thơ “Việt Bắc” nói lên bao nỗi nhớ vô cùng thắm thiết thủy chung đối với Việt Bắc:

“Ta về mình có nhớ ta,

Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”.

Hai câu thơ đầu là lời hỏi – đáp của “ta”, của người cán bộ kháng chiến về xuôi, ta hỏi mình “có nhớ ta”. Dù về xuôi, dù xa cách nhưng lòng ta vẫn gắn bó thiết tha với Việt Bắc: “Ta về, ta nhớ những hoa cùng người”. Chữ “ta”, chữ “nhớ” được điệp lại thể hiện một tấm lòng thủy chung son sắt. Nỗi nhớ ấy hướng về “những hoa cùng người”, hướng về thiên nhiên núi rừng Việt Bắc và con người Việt Bắc thân yêu:

“Ta về, mình có nhớ ta,
Ta về, ta nhớ những hoa cùng người”.

Hai chữ “mình – ta” xuất hiện ở tần số cao trong bài thơ, cũng như ở trong hai câu thơ này đã thể hiện một cách rất đẹp tình cảm lứa đôi hòa quyện trong mối tình Việt Bắc, đồng thời làm cho giọng thơ trở nên thiết tha bồi hồi như tiếng hát giao duyên thuở nào. Đó là sắc điệu trữ tình và tính dân tộc trong thơ Tố Hữu.

Tám câu thơ tiếp theo, mỗi cặp lục bát nói lên một nỗi nhớ cụ thể về một cảnh sắc, một con người cụ thể trong 4 mùa đông, xuân, hè, thu.

Nhớ mùa đông nhớ màu “xanh” của núi rừng Việt Bắc, nhớ màu “đỏ tươi” của hoa chuối như những ngọn lửa thắp sáng rừng xanh. Nhớ người đi nương đi rẫy “dao gài thắt lưng” trong tư thế mạnh mẽ hào hùng đứng trên đèo cao “nắng ánh…”. Con dao của người đi nương rẫy phản quang “nắng ánh” rất gợi cảm:

“Rừng xanh, hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh gao gài thắt lưng”.

Màu “xanh” của rừng, màu “đỏ tươi” của hoa chuối, màu sáng lấp lánh của “nắng ánh” từ con dao; màu sắc ấy hòa hợp với nhau, làm nổi bật sức sống tiềm tàng, mãnh liệt của thiên nhiên Việt Bắc, của con người Việt Bắc đang làm chủ thiên nhiên, làm chủ cuộc đời trong kháng chiến. Tố Hữu đã có một cái nhìn phát hiện về sức mạnh tinh thần làm chủ tập thể của nhân dân ta do cách mạng và kháng chiến mang lại. Người lao động sản xuất thì hào hùng đứng trên “đèo cao” ngập nắng và lộng gió. Đoàn dân công đi chiến dịch thì “bước chân nát đá muôn tàn lửa bay”. Người chiến sĩ ra trận mang theo sức mạnh vô địch của thời đại mới:

“Núi không đè nổi vai vươn tới
Lá ngụy trang reo với gió đèo”.
(“Lên Tây Bắc”)

Nhớ ngày xuân Việt Bắc là nhớ hoa mơ “nở trắng rừng”. Chữ “trắng” là tính từ chỉ màu sắc được chuyển từ loại thành bổ ngữ “nở trắng rừng”, gợi lên một thế giới hoa mơ bao phủ khắp mọi cánh rừng Việt Bắc màu trắng thanh khiết mênh mông và bao la. Cách dùng từ tài hoa của Tố Hữu gợi nhớ trong lòng ta câu thơ của Nguyễn Du tả một nét xuân thơ mộng, trinh bạch trong “Truyện Kiều”:

“Cỏ non xanh tận chân trời,
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”.

Nhớ “mơ nở trắng rừng”, nhớ người thợ thủ công đan nón “chuốt rừng sợi giang”. “Chuốt” nghĩa là làm bóng lên những sợi giang mỏng mảnh. Có khéo léo, kiên nhẫn, tỉ mỉ mới có thể “chuốt từng sợi giang” để đan thành những chiếc nón, chiếc mũ phục vụ kháng chiến, để anh bộ đội đi chiến dịch có “ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan”. Người đan nón được nhà thơ nói đến tiêu biểu cho vẻ đẹp tài hoa, tính sáng tạo của đồng bào Việt Bắc. Mùa xuân Việt Bắc thật đáng nhớ:

“Ngày xuân mơ nở trắng rừng,
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang”.

Nhớ về Việt Bắc là nhớ mùa hè với tiếng ve kêu làm nên khúc nhạc rừng, là nhớ màu vàng của rừng phách, là nhớ cô thiếu nữ đi “hái măng một mình” giữa rừng vầu, rừng nứa, rừng trúc:

“Ve kêu rừng phách đổ vàng,
Nhớ cô em gái hái măng một mình”.

Một chữ “đổ” tài tình. Tiếng ve kêu như trút xuống “đổ” xuống thúc giục ngày hè trôi nhanh, làm cho rừng phách thêm vàng. Xuân Diệu cũng có câu thơ sử dụng chữ “đổ” chuyển cảm giác tương tự: “Đổ trời xanh ngọc qua muôn lá…” (Thơ duyên – 1938). Câu thơ “Nhớ cô em gái hái măng một mình” là câu thơ đặc sắc, giàu vần điệu, thanh điệu. Có vần lưng: “Gái” vần với “hái”. Có điệp âm qua các phụ âm “m”: “măng – một – mình”. Đây là những vần thơ nên họa nên nhạc, tạo nên một không gian nghệ thuật đẹp và vui, đầy màu sắc âm thanh. “Cô em gái hái măng một mình” vẫn không cảm thấy lẻ loi, vì cô đang lao động giữa nhạc rừng, hái măng để góp phần “nuôi quân” phục vụ kháng chiến. Cô gái hái măng là một nét trẻ trung, yêu đời trong thơ Tố Hữu.

Nhớ mùa hè rồi nhớ mùa thu Việt Bắc, nhớ khôn nguôi, nhớ trăng ngàn, nhớ tiếng hát:

“Rừng thu trăng rọi hòa bình,
Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”.

Trăng xưa “vàng gieo ngấn nước cây lồng bóng sân”. Trăng Việt Bắc trong thơ Bác Hồ là “trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa”. Người cán bộ kháng chiến về xuôi nhớ vầng trăng Việt
Bắc giữa rừng thu, trăng “rọi” qua tán lá rừng xanh, trăng thanh mát rượi màu “hòa bình” nên thơ. “Ai” là đại từ nhân xưng phiếm chỉ, “nhớ ai” là nhớ về tất cả, về mọi người dân Việt Bắc giàu tình nghĩa thủy chung, đã hi sinh quên mình cho cách mạng và kháng chiến.

Đoạn thơ trên đây dào dạt tình thương mến. Nỗi thiết tha bồi hồi như thấm sâu vào cảnh vật và lòng người, kẻ ở người về, mình nhớ ta, ta nhớ mình. Tình cảm ấy vô cùng sâu nặng biết bao ân tình thủy chung. Năm tháng sẽ qua đi, những tiếng hát ân tình thủy chung ấy mãi mãi như một dấu son đỏ thắm in đậm trong lòng người.

Đoạn thơ mang vẻ đẹp một bức tranh tứ bình đặc sắc, đậm đà phong cách dân tộc. Mở đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp là mùa đông năm 1946, đến mùa thu tháng 10 – 1954, thủ đô Hà Nội được giải phóng – Tố Hữu cũng thể hiện nỗi nhớ Việt Bắc qua bốn mùa: đông – xuân – hè – thu, theo dòng chảy lịch sử. Mỗi mùa có một nét đẹp riêng dạt dào sức sống: màu xanh của rừng, màu đỏ tươi của hoa chuối, màu trắng của hoa mơ, màu vàng của rừng phách, màu trăng xanh hòa bình. Thiên nhiên Việt Bắc trong thơ Tố Hữu rất hữu tình, mang vẻ đẹp cổ điển. Con người được nói đến không phải là ngư, tiều, canh, mục mà là người đi nương đi rẫy, là người đan nón, là cô em gái hái măng, là những ai đang hát ân tình thủy chung. Tất cả đều thể hiện những phẩm chất tốt đẹp của đồng bào Việt Bắc: cần cù, làm chủ thiên nhiên và làm chủ cuộc đời trong lao động, kiên nhẫn, khéo léo, tài hoa, trẻ trung lạc quan yêu đời, ân tình thủy chung với cách mạng và kháng chiến.

Một giọng thơ ngọt ngào, tha thiết bồi hồi cứ quyện lấy tâm hồn người đọc. Nỗi nhớ được nói đến trong “Việt Bắc” cũng như trong đoạn thơ này cho thấy một nét đẹp trong phong cách thơ Tố Hữu: chất trữ tình công dân và tính dân tộc, màu sắc cổ điển và tính thời đại được kết hợp một cách hài hòa.

Hình tượng đẹp, phong phú, gợi cảm. Một không gian nghệ thuật đầy sức sống, với những đường nét, âm thanh, màu sắc, ánh sáng, cấu trúc cân xứng hài hòa, để lại trong tâm hồn ta một ấn tượng sâu sắc như Bác Hồ đã viết: “Cảnh rừng Việt Bắc thật là hay…”

Thơ đích thực “là ảnh, là nhân ảnh…, từ một cái hữu hình nó thức dậy được những vô hình bao la” (Nguyễn Tuân). Đoạn thơ trên đây gợi lên trong lòng ta tình mến yêu Việt Bắc, tự hào về đất nước và con người Việt Nam. Đoạn thơ “nhịp mãi lên một tấm lòng sứ điệp”, để ta thương, ta nhớ về mối tình Việt Bắc, mối tình kháng chiến.

Như vậy, bức tranh tứ bình, bốn cảnh sắc với bốn dáng điệu đều mang một vẻ đẹp khác nhau của thiên nhiên và núi rừng Tây Bắc. Nhà thơ Tố Hữu đã thâu tóm được những gì là đặc trưng nhất của quê hương cách mạng. Điều thú vị hơn cả là đều hiện lên trong điệp khúc nhớ thương. Hi vọng qua những chia sẻ trên đây của PUD, các bạn đã có thể viết được bài văn Phân tích bức tranh tứ bình trong Việt Bắc hay nhất.

  • Đừng bỏ lỡ: Phân tích và cảm nhận vẻ đẹp thiên nhiên trong bài thơ Việt Bắc (Tố Hữu)

Trả lời

error: Content is protected !!