Phân tích truyện ngắn Thuốc của Lỗ Tấn – dàn ý chi tiết và bài văn mẫu

Phân tích truyện ngắn Thuốc của Lỗ Tấn – dàn ý chi tiết và bài văn mẫu

Phân tích truyện ngắn Thuốc của Lỗ Tấn là nội dùng PUD muốn giới thiệu cùng các em, với mục đích giúp các em có thêm nhiều kiến thức hay trong việc phân tích truyện ngắn này, tạo tiền đề tốt cho các em ôn luyện để chuẩn bị cho kì thi quan trọng trước mắt.

1. Tác giả và tác phẩm

Để hiểu hơn về nội dung cũng như nghệ thuật và tư tưởng tác phẩm Thuốc của Lỗ Tấn, chúng ta cần nắm được những thông tin khái quát về tác giả Lỗ Tấn cũng như tác phẩm. Dưới đây là đôi nét chính bạn cần nắm được khi phân tích tác phẩm này.

1.1. Đôi nét về tác giả Lỗ Tấn

Lỗ Tấn sinh năm 1881 và mất năm 1936, tên thật của ông là Chu Thụ Nhân, quê ở phủ Thiệu Hưng, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc. Ông là nhà văn cách mạng thế hệ đầu tiên có phương châm và mục đích sáng tác đúng đắn là dùng ngòi bút để phanh phui các “căn bệnh tinh thần của quốc dân” – một trong những nguyên nhân quan trọng khiến cho xã hội Trung Quốc trở nên trì trệ và suy thoái.

Sự nghiệp sáng tác của Lỗ Tấn gồm nhiều tác phẩm, điển hình là 3 tập truyện ngắn, 16 tập tạp văn với các đề tài chính trị, xã hội, văn chương… Lỗ Tấn xứng đáng là ngọn cờ đầu của văn học Trung Quốc hiện đại – người có đóng góp quan trọng cho nền nghệ thuật của Trung Hoa.

1.2. Đôi nét về tác phẩm Thuốc

Tác phẩm Thuốc của Lỗ Tấn ra đời năm 1919. Nội dung của tác phẩm này đã cho thấy những day dứt, băn khoăn cũng như tinh thần trách nhiệm của nhà văn trước những vấn đề của thời đại lúc bấy giờ, đặc biệt là những mối u nhọt của xã hội Trung Quốc đương thời.

Trong Thuốc của Lỗ Tấn, tác giả đã phê phán sự lạc hậu, mê muội và đáng thương của số đông dân chúng và thái độ xa rời thực tế xa rời quần chúng của những người khởi xướng và tham gia cuộc cách mạng Ngũ Tứ lúc bấy giờ.

Đồng thời qua tác phẩm Thuốc của Lỗ Tấn, nhà văn cũng gửi gắm trong truyện niềm hi vọng vào tương lai Trung Quốc sẽ có một cuộc cách mạng triệt để của quần chúng và vì quần chúng. Bối cảnh của truyện là một  xã hội tăm tối và ngột ngạt dưới ách thống trị của triều đình Mãn Thanh trước khi nổ ra phong trào cách mạng Ngũ Tứ – sự kiện mở đầu cho lịch sử Trung Quốc hiện đại.

Với sự xâm chiếm và can thiệp thô bạo của một số đế quốc như Anh, Pháp, Mĩ, Nhật đã biến Trung Quốc thành một đất nước nửa phong kiến, nửa thuộc địa. Khi đó, thời vàng son của các triều đại vua chúa đã ở vào dĩ vãng. Thay vào đó là xã hội đình trệ, suy thoái mà theo nhận định của Lỗ Tấn: So với tiến bộ thì đình trệ cũng gần với con đường diệt vong rồi. Như vậy, Thuốc của Lỗ Tấn mang một giá trị tinh thần rất lớn.

2. Dàn ý phân tích tác phẩm Thuốc của Lỗ Tấn

Thuốc của Lỗ Tấn là một tác phẩm mang giá trị sâu sắc với nhiều ý nghĩa. Để hiểu sâu về tác phẩm này, chúng ta cùng tìm hiểu khái quát về nội dung, ý nghĩa của từng đoạn cảnh cũng như ý nghĩa của từng phân cảnh này. Qua đó hãy cùng soạn bài Thuốc của Lỗ Tấn.

2.1. Nội dung truyện ngắn Thuốc của Lỗ Tấn

Nội dung Thuốc của Lỗ Tấn xoay quanh chủ đề về Thuốc – một thứ “thuốc” kinh khủng, gớm ghiếc hiếm có xưa nay. Đó là bánh bao tẩm máu tươi của những kẻ tử tù bị chém đầu, đem nướng lên cho người bệnh ăn. Thiên hạ đồn rằng thứ thuốc ấy chữa khỏi được cà những bệnh thuộc “tứ chứng nan y” như phong, lao, cổ, lại.

Cụ thể hơn trong Thuốc của Lỗ Tấn là truyện kể về vợ chồng lão Hoa chủ quán trà gom góp số tiền tích cóp đã lâu và lão Hoa đích thân đến tận pháp trường để mua “thuốc” cho con trai bị bệnh lao nặng, với hi vọng là nó sẽ khỏi bệnh. Nhưng đau xót thay, máu của tử tù chết chém không chữa được bệnh lao! Thế là tiền mất nhưng lại tật mang, cuối cùng đứa con trai độc đinh của vợ chồng lão Hoa vẫn chết.

Trong Thuốc của Lỗ Tấn, ngòi bút của tác giả đã đề cập tới một vấn đề đáng lo ngại là tập quán chữa bệnh phản khoa học – một trong những biểu hiện của tình trạng lạc hậu về mặt khoa học ở Trung Quốc, cũng như trong đời sống tinh thần của dân chúng mà nhân vật Thuyên chỉ là một trong muôn ngàn nạn nhân của tập quán hủ lậu ấy.

Bên cạnh đó, trong Thuốc của Lỗ Tấn, nhà văn còn kín đáo gửi gắm dụng ý của mình trong nghĩa hàm ẩn của truyện. Con bệnh trầm kha không phải là anh chàng Thuyên tội nghiệp mà chính là đầu óc mê muội của vợ chồng lão Hoa nói riêng và số đông dân chúng nói chung.

Theo nhận xét của tác giả thì cả xã hội Trung Quốc thời ấy giống như một người mắc bệnh nặng, đòi hỏi phải có một thứ “thuốc” đặc trị thì mới có thể chữa khỏi ; đồng thời ông cũng chỉ ra rằng con đường đi của dâ
n tộc Trung Hoa lúc này đã lâm vào ngõ cụt, cần phải nhanh chóng phát quang mọi con đường mới.

2.2. Hình tượng chiếc bánh bao trong truyện Thuốc của Lỗ Tấn

  • Nghĩa thực: là phương thức thuốc chữa bệnh, độc hại, gợi liên tưởng tới việc ăn thịt người
  • Chiếc bánh bao là biểu tượng cho sự u mê, thiếu hiểu biết, mê tín, dị đoan của những người Trung Quốc giai đoạn đó.

2.3. Hình tượng người tù cách mạng Hạ Du trong Thuốc của Lỗ Tấn

  • Hạ Du là chiến sĩ cách mạng, khi trong tù thì không ai biết đến.
  • Người anh hùng sớm được giác ngộ lí tưởng cách mạng, tới khi bị xử tử hình vẫn không làm cho căn bệnh u mê của người dân được đẩy lùi.
  • Con trai lão Hoa dù được ăn chiếc bánh nhưng vẫn không khỏi bệnh nhưng không qua khỏi.
  • Hạ Du không được miêu tả trực tiếp, chỉ là những chi tiết được gợi lên trong lời kể của của một số người trong quán trà lão Hoa.
  • Họ bàn tới cả công hiệu của chiếc bánh bao tẩm máu người.
  • Qua lời bàn tán Lỗ Tấn cho thấy thái độ ca ngợi, trân trọng đối với Hạ Du (trái ngược với đám đông phê phán).
  • Tác giả cho thấy sự lạc hậu của người dân Trung Quốc.
  • Lòng yêu nước còn nhưng xa rời quần chúng ( bị chú ruột tố giác, mẹ xấu hổ, đao phủ dùng máu trục lợi, bị miệt thị.

thuốc của lỗ tấn và hình ảnh về tác giả tác phẩm

2.4.Phân tích từng phân cảnh trong tác phẩm Thuốc của Lỗ Tấn

Thuốc của Lỗ Tấn là tác phẩm với nhiều phân cảnh và lớp nghĩa khác nhau. Để hiểu hơn về tác phẩm này chúng ta hãy cùng phân tích nội dung và ý nghĩa từng phân cảnh trong Thuốc của Lỗ Tấn.

Cảnh thứ nhất: Mua chiếc bánh bao tẩm máu

Mở đầu tác phẩm Thuốc của Lỗ Tấn, tác giả tả cảnh lão Hoa chủ quán trà dậy thật sớm, bảo vợ đưa tiền để đến pháp trường mua chiếc bánh bao tẩm máu tử tù về làm thuốc chữa bệnh lao cho đứa con trai duy nhất. Lỗ Tấn có cách kể chuyện xen miêu tả rất tự nhiên, sinh động.

Nhiều chi tiết nhỏ nhưng lại có tác dụng kết nối, tạo mạch cho câu chuyện tiếp diễn theo trình tự thời gian. Chẳng hạn tràng ho không dứt của thằng Thuyên như thúc giục lão Hoa nhanh chóng lên đường lúc trời chưa sáng; hay lòng thương con và niềm hi vọng con sẽ khỏi bệnh khiến cho lão Hoa bước nhanh hơn.

Trong Thuốc của Lỗ Tấn, Lão Hoa mê muội tin vào thứ thuốc chữa bệnh lao quái dị: bánh bao tẩm máu tử tù nên cố lách vào đám đông hỗn độn đang xô đẩy nhau ào ào để mua cho bằng được thứ mà lão coi như thuốc tiên, cổ thể cứu mạng đứa con trai của mình. Thứ “thuốc” đáng sợ và hiếm có ấy được rao bán như bán các món hàng bình thường khác. Ngòi bút tả thực sắc sảo của Lỗ Tấn khiến người đọc cảm thấy như cảnh tượng hãi hùng ấy đang diễn ra trước mắt.

Có một chi tiết mang ý nghĩa ẩn dụ trong Thuốc của Lỗ Tấn chính là không phải chỉ một mình lão Hoa vội vàng đi mua bánh bao tẩm máu tử tù để chữa bệnh mà rất nhiều người khác cũng có ý định như lão. Qua chỉ tiết này, Lỗ Tấn muốn nói đến thực trạng đáng lo ngại: số đông dân chúng Trung Quốc đương thời vẫn tin vào những điều nhảm nhí không có cơ sở khoa học, bởi thói mê tín dị đoan đã tiêm nhiễm vào đầu óc họ, trở thành một căn bệnh tinh thần khó chữa.

Cảnh thứ hai: Con trai lão Hoa được ăn bánh bao tẩm máu

Ở cảnh thứ hai trong tác phẩm Thuốc của Lỗ Tấn, niềm hân hoan, tin tưởng và hy vọng của lão Hoa mỗi lúc một dâng cao. Về đến nhà, lão cùng với vợ vội vàng chế biến “thuốc cải tử hoàn sinh” rồi cho con trai ăn chiếc bánh bao tẩm máu nướng đen thui. Thuyên cầm chiếc bánh lên nhìn, có cảm giác rất lạ không biết thế nào mà nói, như đang cầm tính mệnh của chính mình trong tay. Y bẻ đôi ra, rất cẩn thận…

Không bao lâu, chiếc bánh đã nằm gọn trong bụng… Lão Hoa đứng một bên, bà Hoa đứng một bên, trố mắt nhìn con như muốn rót vào người con một cái gì, đồng thời cũng muốn lấy ra một cái gì. Tác giả đã thể hiện tài tình diễn biến tâm trạng của từng nhân vật trong đoạn văn này. Cha mẹ Thuyên nhìn con ăn chiếc bánh bao mà lòng khấp khởi hi vọng, tin rằng con sẽ nhanh chóng khỏi bệnh.

Với Thuốc của Lỗ Tấn, họ muốn rót vào người con sự sống, đồng thời cũng muốn lấy ra căn bệnh lao đáng sợ mà người đời đã liệt vào hàng “tứ chứng nan y”, ai mắc phải là cầm chắc cái chết. Vợ chồng lão Hoa là những nhân vật vừa đáng thương vì tình phụ tử, mẫu tử của họ thật cảm động, nhưng lại vừa đáng giận bở
i họ mê tín đến ngu muội.

Hình ảnh đám đông trong quán trà của lão Hoa cũng phản ánh rất chân thực về “căn bệnh tinh thần” của người trung Quốc. Quán trà lão Hoa là nơi tụ họp thường xuyên của khách bình dân. Tại đây, lượng thông tin chẳng những rất phong phú mà còn rất thật.

Khách uống trà gồm một người râu hoa râm, cậu Năm Gù, bác cả Khang, một anh chàng hơn hai mươi tuổi… và một số người khác. Họ là những người thuộc số đống dân chúng Trung Quốc lúc bấy giờ. Quán trà của lão Hoa giống như xã hội Trung Quốc thu nhỏ.

Đám khách uống trà bàn tán xoay quanh hai sự kiện nóng hổi : Thứ nhất là chuyện lão Hoa mua được “thần dược”; thứ hai là chuyện Hạ Du bị chết chém. “Thuốc tiên” để trị “bệnh quỷ” mà người Trung Quốc vẫn tôn sùng lúc bấy giờ chính là bánh bao tẩm máu tử tù. Bánh bao thì luôn luôn có sẵn, nhưng còn máu tử tù ?

Máu tử tù không sẵn nhưng cũng không phải là hiếm, chì cẩn có tiền là mua được, nhất là vào đúng dịp có tử tù bị chém. Lão Hoa có con mắc bệnh lao nặng, may mắn gặp ngay dịp Hạ Du bị chém đầu. Cho nên hôm ấy ở quán trà nhà lão Hoa, người ta chỉ bàn đến hai chuyện ấy cũng là điều dễ hiểu, vấn đề quan trọng ở đây là thái độ của họ trước hai sự kiện này ra sao ?

Về sự kiện thứ nhất trong Thuốc của Lỗ Tấn, mọi người đều mừng cho lão Hoa đã may mắn mua được “thần dược” và họ đặt niềm tin tuyệt đối vào phương thuốc kì quái ấy. Chỉ trong một đoạn văn ngắn mà có tới sáu lần nhắc lại câu : Cam đoan thế nào cũng khỏi, giống lời khẳng định chắc chắn như đinh đóng cột.

Về sự Kiện thứ hai trong tác phẩm Thuốc của Lỗ Tấn, mọi người đều tỏ thái độ khinh bỉ, dè bỉu và dùng những lời lẽ xấu xa nhất để gọi Hạ Du : tên phạm, thằng quỷ sứ, thằng nhãi con, thằng khốn nạn… Họ coi anh là giặc, là dám vuốt râu cọp, là điên. Họ cho rằng anh bị chém đầu là đích đáng.

Họ hả hê như chính mình vừa trừ khử được một kẻ tội đồ. Khi nghe kể đến đoạn Hạ Du bị lão Nghĩa quản ngục đánh cho hai cái bạt tai vì dám rủ lão “làm giặc” thì họ thú quá, cứ nhao nhao nói nói cười cười. Trong khi đó, họ lại xuýt xoa khen cụ Ba đã sáng suốt đem nộp cháu mình cho nhà chức trách, vừa không bị mất đầu vì chứa chấp một tên phản nghịch, vừa được thưởng hai mươi lạng bạc.

Qua cuộc bàn luận của đám đông ở quán trà, trong Thuốc của Lỗ Tấn, tác giả đã khéo léo phơi bày thực trạng tinh thần u mê tăm tối của phần lớn dân chúng Trung Quốc thời đó. Cách mạng Tân Hợi là một cuộc cách mạng không triệt để. Người dân chưa được tuyên truyền, giác ngộ nên họ coi những người làm cách mạng là làm giặc”. Họ càng không hiểu gì về mục đích cao cả của cách mạng.

Lỗ Tấn nhận thức rất rõ “căn bệnh tinh thần” của người Trung Hoa đã đến mức trầm trọng. Đã đến lúc phải khẩn cấp tìm ra một phương thuốc “đặc hiệu” để chữa trị căn bệnh ấy. Nhưng đó là phương thuốc nào?

Lúc này, cách mạng Trung Quốc đang dò dẫm tìm đường, Lỗ Tấn cũng đang tìm đường, ông chưa thể đưa ra một giải pháp chính xác, nhưng ông đã dự cảm được một điểu gì đó. Dự cảm ấy phần nào được thể hiện qua hình tượng nhân vật Hạ Du.

Hạ Du tuy không được tác giả miêu tả trực tiếp nhưng nhân vật này đóng vai trò quan trọng là mắt xích tiên kết toàn bộ câu chuyện và chi phối các sự kiện trong tác phẩm. Hạ Du là một chiến sĩ cách mạng có ý chí kiên cường, dám chấp nhận thử thách, hi sinh. Đến phút chót anh vẫn tuyên truyền cách mạng.

Hạ Du bộc lộ nỗi đau xót trước tình trạng mê muội của dân chúng. Nhưng thật đáng buồn là ý chí, mục đích và hành động của anh lại bị mọi người hiểu một cách sai lạc. Cụ Đa là người thân cho rằng anh “làm giặc” nên đã tố giác anh để lấy tiền thưởng. Dân chúng thì chờ anh bị chém đầu để lấy máu anh tẩm vào bánh bao làm thuốc chữa bệnh.

Với những tôn đao phủ tàn bạo, tham lam thì máu Hạ Du là một món hàng đem lại lợi nhuận béo bở. Với đám đông dân chúng, Hạ Du là đối tượng để cho họ chế giễu và khinh bỉ. Thậm chí đến cả mẹ anh cũng không hiểu đúng về con trai mình.

Xây dựng nhân vật Hạ Du trong Thuốc của Lỗ Tấn, tác giả vừa bày tỏ thái độ trân trọng và kính phục, vừa ngầm phê phán những người làm cuộc cách mạng Ngũ Tứ xa rời và chưa giác ngộ được quần chúng. Thật xót xa và đau đớn trước hình ảnh người chiến sĩ cách mạng không hòa hợp được với quần chúng và còn bị dân chúng nhìn bằng con mắt miệt thị và giễu cợt. Chính vì thế mà sự hi sinh của họ trở nên vô nghĩa.

Trong phần cuối Thuốc của Lỗ Tấn, khung cảnh nghĩa địa được Lỗ Tấn miêu tả rất kĩ: Miếng đất dọc chân thành phía ngoài cửa Tây vốn là đất công. Ở giữa là con đường mòn nhỏ hẹp, cong queo, do những người hay đi tắt giẫm mãi thành đường. Đó cũng là cái ranh giới tự nhiên giữa nghĩa địa những người chết chém hoặc chết tù, ở về phía tay trái, và nghĩa địa những người nghèo, ở về phía tay phải.

Cả hai nơi, mộ dày khít, lớp này lớp khác, như bánh bao nhà giàu ngày mừng thọ. Hình ảnh con đường mòn ở đây không chỉ đơn thuần là một ranh giới tự nhiên mà nó còn là ranh giới vô hình của lòng người, của những định kiến xã hội. Cảnh nghĩa địa trong đoạn văn mang nhiều ý nghĩa.

Thứ nhất: Dư luận xã hội không hề có sự phân biệt giữa những người làm cách mạng hi sinh vì đất nước với những kẻ tội đồ. Như vậy thì những chiến sĩ cách mạng cũng bị coi là “giặc”. Thứ hai: số người bị chết chém hoặc chết tù
cũng nhiều như số người bị chết vì nghèo đói. Hình ảnh những ngôi mộ ở nghĩa trang nhiều như bánh bao nhà giàu ngày mừng thọ là một hình ảnh so sánh mỉa mai, gợi lên thực trạng xã hội phong kiến Trung Hoa vừa đen tối vừa tàn bạo thời ấy.

Qua Thuốc của Lỗ Tấn, nhà văn còn gửi gắm một hàm ý khác nữa trong hình ảnh con đường mòn chia đôi nghĩa địa: ranh giới giữa người nghèo và người cách mạng rất gần. Những người làm cách mạng là ai nếu không phải là tầng lớp nghèo khổ bị áp bức, bóc lột đến cùng cực, không còn con đường nào khác là phải tự vùng lên để giải phóng cuộc đời mình? Nếu như lúc còn sống họ chưa thật sự hiểu nhau, gắn bó với nhau thì lúc chết, nghĩa địa này là nơi họ được ở gần nhau.

Hai bà mẹ cùng ra thăm mộ con trong tiết Thanh minh. Đó là bà Hoa, mẹ của Thuyên và bà mẹ của Hạ Du – tử tù chết chém. Bà Hoa đặt lễ vật trước mộ con, khấn vái rồi khóc lóc một hồi. Bà kia cũng làm như vậy trước mộ con mình, chỉ khác là mộ của Thuyên ở bên phải đường mòn, còn ngôi mộ kia thì nằm bên trái đường mòn, gần như đối diện nhau.

Tình huống này đã tác động rất mạnh tới suy nghĩ và cảm xúc của người đọc. Cả những người đã chết và những người đang sống đều là nạn nhân đau khổ, đáng thương của xã hội phong kiến Trung Quốc hủ bại, bế tắc đương thời.

Câu hỏi đẩy ngạc nhiên và băn khoăn của bà mẹ Hạ Du trong tác phẩm Thuốc của Lỗ Tấn: “Thế này là thế nào?” khỉ nhìn thấy trên nấm mộ con trai mình có những cánh hoa trắng hoa hồng… không nhiều lắm, xếp thành vòng tròn tròn, không lấy gì làm đẹp, nhưng cũng chỉnh tề lặp lại hai lần gợi nhiều day dứt. Câu hỏi ấy thể hiện thái độ khó hiểu của bà mẹ trước hành động tham gia cách mạng và cái chết bi thảm của con trai mình; đồng thời chất chứa cảm xúc chua xót, đau khổ và tự trách.

Đó không chì là câu hỏi dành riêng cho bà mẹ Hạ Du mà còn dành cho tất cả mọi người. Ai đã đến đây? Chắc chắn đó là đồng chí của Hạ Du, hoặc là người có cảm tình với cách mạng. Họ đã bất chấp luật lệ nghiệt ngã của chính quyền, vẫn can đảm bày tỏ tình cảm của mình đối với cách mạng. Họ dám đến viếng mộ anh và còn kính cẩn đặt lên đó một vòng hoa tươi: …hoa trắng hoa hồng xen lẫn nhau, nằm khoanh trên nấm mộ khum khum.

Một trong số những người không sợ liên liên chính là Lỗ Tấn. Nhà văn đã bày tỏ thái độ kính trọng đối với các chiến sĩ của phong trào cách mạng Ngũ Tứ. Ông đã đặt vòng hoa tưởng niệm trên mộ Hạ Du. Đó cũng là cách ông nêu ra vấn đề cấp thiết là phải có một phương thuốc đặc trị để cứu chữa “căn bệnh tinh thần” của người Trung Quốc.

Phương thuốc đó quyết không phải là cái gì khác ngoài con đường cách mạng, nhưng không nửa vời như cuộc cách mạng Tân Hợi mà là cuộc cách mạng triệt để của quần chúng và vì quần chúng. Hình ảnh vòng hoa trên mộ Hạ Du còn chứng tỏ nhà văn Lỗ Tấn vẫn ấp ủ hi vọng vào ngày mai tươi sáng, cho dù những người tham gia phong trào cách mạng Ngũ Tứ đang bị chính quyền ráo riết khủng bố và bản thân tác giả cũng đang ở tâm trạng đau đớn, bàng hoàng.

Nó làm cho cái chết của Hạ Du bớt phần bi thảm bởi vì dù sao thì cũng có người xúc động và hiểu được phần nào ý nghĩa cái chết của anh. Đó cũng là niềm an ủi cho những dũng sĩ đang bôn ba trong chốn quạnh hiu. Đây cũng là cách gọi của nhà văn Trong tác phẩm Thuốc của Lỗ Tấn đối với những người tham gia phong trào cách mạng Ngũ Tứ.

Câu chuyện về Thuốc được miêu tả ở hai thời điểm là mùa thu và mùa xuân. Hạ Du và Thuyên chết vào mùa thu, đồng nghĩa với sự tàn lụi. Hai cái chết của hai người trai trẻ có số phận khác nhau và cách họ chết cũng không giống nhau. Thế nhưng, đến mùa xuân, hai bà mẹ có chung nỗi đau mất con dường như đã đồng cảm với nhau.

Trong Thuốc của Lỗ Tấn, nhà văn đã đặt câu chuyện vào thời điểm của hai mùa: một mùa có tính chất tàn tạ, một mùa có tính chất hồi sinh, tác giả dường như muốn gửi gắm vào đó niềm hi vọng về sự đổi thay tất yếu. Dù không có những biểu hiện thật rõ ràng, song với cách kết cấu và thời gian nghệ thuật đầy ý nghĩa tượng trưng, tác giả đã gieo vào lòng người đọc một niềm tin, một niềm hi vọng về tương lai tươi sáng của dân tộc mình.

3. Bài văn mẫu Phân tích truyện ngắn Thuốc của Lỗ Tấn

Vào những năm đầu của thế kỷ XX, dưới ách thống trị tù túng, ngột ngạt của triều đại Mãn Thanh, cùng với sự can thiệp thô bạo của đế quốc, đất nước Trung Hoa rơi vào cảnh khủng hoảng, suy thoái hết sức trầm trọng.  Bầu trời chính trị u ám, rối ren đã gieo rắc nỗi bất an, lo sợ vào tâm trí mỗi người dân Trung Quốc khi ấy, khiến họ chìm sâu vào u mê, ngu muội “ngủ quên trong một cái nhà hộp bằng sắt không có cửa sổ”. Thuốc của nhà văn Lỗ Tấn là một bức tranh hiện thực đầy bi kịch về số phận những người cách mạng, vạch trần “căn bệnh tinh thần” của quần chúng, nhân dân.

Lỗ Tấn là nhà văn cách mạng lỗi lạc của Trung Quốc những năm thế kỷ XX. Quê hương ông ở tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc. Thuở nhỏ chứng kiến người cha lâm bệnh, vì không có thuốc mà chết, ông ôm ước mơ trở thành thầy thuốc. Khi đang theo đuổi con đường lương y, ông đột ngột rẽ hướng để làm một nhà văn bởi ông cho rằng “chữa bệnh thể xác không quan trọng bằng chữa bệnh tinh thần”. Trong các tác phẩm của mình ông không ngại thẳng thắn phanh phui những thói hư, tật xấu của quần chúng, để tìm ra “phương thuốc chạy chữa”, để tự mình vươn lên, để làm nên một dân tộc tự lực, tự cường. Trong toàn bộ những sáng tác của mình, Lỗ Tấn tập trung khai phá những căn bệnh tinh thần k
hiến cho nhân dân mê muội, tự thoải mãn và dần tha hoá, ngòi bút sắc sảo cùng với thái độ tự phê phán nghiêm khắc của mình nhà văn đã tạo nên những tác phẩm rất sâu sắc và thấm đậm tính nhân văn. Thuốc được viết năm 1919 đúng vào phong trào chống đế quốc phong kiến, đòi tự do dân chủ của học sinh, sinh viên Bắc Kinh bùng nổ. Nói về căn bệnh “đớn hèn” của quần chúng và những người cách mạng thì lại xa rời nhân dân. Tác phẩm như hồi chuông cảnh báo : “Người Trung Quốc cần suy nghĩ nghiêm túc về một phương thuốc để cứu lấy dân tộc”.

Mở đầu tác phẩm, Lỗ Tấn đã gây ấn tượng trong lòng người đọc bằng một nhan đề hết sức ngắn gọn và súc tích: “Thuốc”. Không bằng những từ hoa mỹ hay cầu kỳ nhưng nhan đề đã đã nói lên được giá trị cốt lõi của tác phẩm với nhiều tầng nghĩa khác nhau. “Thuốc” ở đây có thể hiểu theo nghĩa thực trần trụi của nó – một chiếc bánh bao tẩm máu người chết chém. Máu người có thể chữa bệnh ho lao? Sao lại có một lối suy nghĩ vừa quái dị, lạc hậu, mê tín và cực kỳ phản khoa học đến thế! Nhà văn liên tưởng đến cái chết của cha, cũng do một ông thầy lang đã bốc để chữa bệnh phù thủng, là rễ cây mía đã kinh sương ba năm và một đôi dế đủ con đực, con cái dẫn đến cái chết của ông cụ. Cách chữa bệnh bằng những bài thuốc mê tín của người dân, đã phần nào khắc hoạ được cho người đọc thấy một xã hội Trung Quốc u mê, dốt nát lúc bấy giờ.

Nhan đề tác phẩm không chỉ dừng lại ở nghĩa tường minh mà còn mang nghĩa hàm ẩn sâu sắc tác giả khéo léo gửi gắm vào đó. “Thuốc” dùng để chữa căn bệnh tinh thần: Căn bệnh gia trưởng, căn bệnh mê muội, lạc hậu về mặt khoa học của người dân Trung Quốc. Bố mẹ thằng Thuyên vì thiếu hiểu biết và gia trưởng đã tự mình áp đặt cho đứa con một phương thuốc thật kinh dị là “chiếc bánh bao tẩm máu người”. Khi cái chết đang trực chờ, họ lại đặt sự sống con mình vào ngõ cụt, có lẽ Thuyên đã sống sót nếu như được chữa trị đúng cách bởi vì lao là một căn bệnh hoàn toàn có thể chữa khỏi. Đáng buồn thay không chỉ vợ chồng lão Hoa mà tất cả mọi người trong quán trà đều tin vào điều phi lý ấy. Bánh bao tẩm máu người chẳng phải thần dược như những kẻ ngu muội kia đang đặt hy vọng, mà nó chính là phương thuốc “độc” giết chết đi một mạng người, thế nhưng họ đặt hết niềm tin vào những điều viễn vọng, những sẽ điều không bao giờ xảy ra ấy.

Đất nước Trung Hoa đang nguy khó hơn bao giờ hết, ngay từ trong chính quần chúng nhân dân, họ đang mắc phải một căn bệnh tưởng chừng như nguy kịch không thể cứu chữa “u mê, lạc hậu về chính trị”. Người dân nô nức đi xem một chiến sĩ cách mạng bị xử tử, họ cho rằng đó là kẻ điên, là giặc và sẵn sàng mua máu anh về làm thuốc. Người anh hùng dám dấn thân vào sự nghiệp bảo vệ đất nước, anh sẵn sàng hy sinh để cho người dân được hưởng tự do, độc lập. Ấy vậy mà khi anh nằm xuống, những con người ngu muội kia lại chẳng hề xót thương, trân trọng. Lỗ Tấn đã chỉ ra căn bệnh của nhân dân và cái sai của người làm cách mạng, họ xa rời nhân dân, không lấy nhân dân làm gốc, chính bởi lẽ đó đã làm cho đất nước ngày càng chìm sâu vào bế tắc, người dân thì u mê trong lối suy nghĩ tầm thường, lạc hậu. Có thể nói nhan đề “Thuốc” đã gói trọn hết hiện thực xã hội Trung Hoa lúc bấy giờ, là chủ đề tư tưởng bao trùm cả tác phẩm, nó nói lên nỗi trăn trở, xót xa của tác giả trước tình cảnh đất nước lâm nguy: Người dân không gắn bó với cách mạng, còn người cách mạng thì “bôn ba trong chốn quạnh hiu”.

Tác giả dẫn dắt người đọc đến với câu chuyện vào “một đêm mùa thu”  khi trời đã nhá nhem sáng, ngoài đường lúc này thật vắng lặng, ảm đạm không một bóng người “ngoài những giống đi ăn đêm, còn thì ngủ cả”. Lão Hoa dậy từ sớm, rời khỏi nhà từ lúc mặt trời còn chưa mọc đến pháp trường với hy vọng tìm được thứ thần dược cứu đứa con từ cõi chết trở về. Lão bước đều đều trên con đường tối om lạnh lẽo, lòng sảng khoái lạ lùng, lão thấy mình như trẻ lại và “ai cho phép thần thông cải tử hoàn sinh”. Chẳng phải tự nhiên mà lão Hoa lại vui mừng đến thế, bởi lão nghĩ tới thằng Thuyên ở nhà sắp được cứu sống, đứa con trai duy nhất “mười đời độc đinh” đang mắc căn bệnh lao. Tới pháp trường, khi được tận mắt thấy trông thấy thứ “thần dược” ấy lão thật sự sợ hãi không dám đưa tay ra cầm lấy “chiếc bánh bao nhuốm máu, đỏ tươi” đang nhỏ từng giọt, từng giọt ấy.

Thật đáng sợ biết bao, một chiếc bánh tẩm máu của người chết chém sao có thể trở thành thuốc chữa bệnh? Một người chiến sĩ bị xử tử, không ai xót thương, họ nhẫn tâm dùng máu của anh để đổi chác, họ coi anh như kẻ tội đồ dửng dưng trước cái chết đầy oan ức của người làm cách mạng. Lão Hoa nâng niu gói bánh như “đứa con của gia đình”, để cả tinh thần mình vào đó, tai lão lúc này chẳng nghe được gì nữa, chỉ duy nhất tiếng con trai đang chờ lão quay về. Cái bánh bao loang lổ máu được bà Hoa gói vào trong một lá sen già và nướng trong bếp lửa thành một thứ “tròn tròn, đen đen”, vẫn một mực tin tưởng vào sự thần kỳ của vị thuốc quái dị kia “Ăn đi con! Sẽ khỏi ngay”. Vợ chồng lão Hoa đứng trố mắt nhìn nhau, tin tưởng không một chút hoài nghi, chỉ cần ngủ một giấc dậy đứa con sẽ lại khoẻ mạnh như xưa. Tình yêu sâu sắc đối với đứa con duy nhất đã làm cho đôi vợ chồng già trở nên mê muội, mù quáng, vừa đáng thương vừa đáng trách. Cũng chẳng riêng gì vợ chồng lão Hoa mà tất cả mọi người đều tin vị thuốc phản khoa học, bác Cả Khang nói chắc như đinh đóng cột “cam đoan thế nào cũng khỏi”, các vị khách trong quán trà đều phụ hoạ theo “thứ thuốc này đặc biệt lắm”, “nhất định sẽ khỏi thôi mà”,… Những lời khẳng định chắc nịch của mọi người dường như gieo thêm đầy sự tin tưởng cho gia đình người chủ quán, không ai bàn tán gì thêm bởi họ nghĩ thằng Thuyên sẽ khỏi bệnh không thể nào khác đi được. Vậy mà cuối cùng Thuyên cũng chết, cái chết đầy xót xa bởi nó giao hết sự sống của mình cho cha mẹ định đoạt, nó chẳng hề biết được rằng chính “chiếc bánh bao tẩm máu người” kia đã gián tiếp cướp đi sinh mạng mình. Nhà văn Lỗ Tấn đã vạch trần hiện thực đất nước Trung Quốc, dưới sự thống trị nhà Thanh đã đẩy người dân vào cuộc sống đầy bế tắc, chìm sâu vào những mê mu
ội, lạc hậu. Bệnh tật không thể chữa được bằng phương pháp mê tín, mị đoan mà phải có một phương thuốc đặc hiệu.

Không cần dùng nhiều câu văn để miêu tả, Lỗ Tấn đã khéo léo lồng ghép vào trong cuộc nói chuyện của những người trong quán trà, một nhân vật người chiến sĩ cách mạng anh dũng với tên Hạ Du. Một trong số những người dân có tư tưởng sớm giác ngộ, anh chọn cho mình một lối đi hướng tới cách mạng, dám hy sinh thân mình cho đất nước, cho dân tộc. Thế nhưng trong mắt quần chúng anh chỉ là: “thằng quỷ sứ”, “nhãi con”, “khốn nạn”, “điên”… Ngay cả người chú ruột không nghĩ tới tình thân, lại đứng ra tố cáo cháu mình chỉ để đổi lấy hai mươi lạng bạc, họ tiếc cái áo hơn cả mạng sống con người, thậm chí lúc đã nằm xuống nơi pháp trường thì máu anh cũng dùng làm vật để họ trao đổi mua bán. Quả là một tình cảnh bi hài, trớ trêu người chiến sĩ bị gọi là giặc trong chính đất nước mà anh bảo vệ. Tình cảnh Trung Quốc lúc bấy giờ như một kẻ bệnh tật đang đứng bên bờ cái chết, cần một liều thuốc đặc trị để thoát khỏi nạn vong quốc. Hình tượng người tử tù Hạ Du đã lên án, tố cáo gay gắt tình trạng suy thoái của đất nước, sự u mê của quần chúng về chính trị, sự xa lánh thoát ly ra khỏi quần chúng của người làm cách mạng.

Không gian trong truyện được bao trùm bởi sự bế tắc, u ám, lạnh lẽo, tuy nhiên thời gian trong truyện được Lỗ Tấn miêu tả có sự chuyển biến từ mùa thu “trảm quyết” đến mùa xuân “Tiết thanh minh” năm ấy, điểm nhìn của tác giả xuôi theo mạch suy tư lạc quan, niềm hy vọng về tương lai tươi đẹp của đất nước. Con đường mòn nhỏ hẹp, quanh co, người đi mãi cũng thành đường, từ lâu đã trở thành “ranh giới tự nhiên” giữa mộ những người chết chém, chết tù và mộ những người nghèo. Cái ranh giới từ lâu đã hằn sâu trong lòng nhân dân, là sự phân biệt giữa những cuộc đời khác nhau lối suy nghĩ. Ngay cả mẹ Hạ Du cũng không hiểu được con mình, khi có người bắt gặp, bà chững lại không dám bước tới mộ con, sắc mặt “đỏ lên vì xấu hổ”. Con đường mòn kia dường như chẳng còn tồn tại khi bà Hoa sang bên kia phía trái con đường để an ủi, chia sẻ nỗi đau mất con với mẹ của Hạ Du. Một vòng hoa nhỏ xuất hiện trên mộ Hạ Du, có thể là do một người dân đặt đó để tưởng nhớ đến công lao, sự hy sinh của người chiến sĩ, đồng thời cũng là tấm lòng thương xót, biết ơn của nhà văn dành tặng với một niềm hy vọng vào một đất nước Trung Quốc trong tương lai tươi sáng hơn.

Với ngòi bút cô đọng, súc tích, lối viết giàu hình ảnh sinh động, chân thực Lỗ Tấn đã gợi lên trong lòng người đọc những suy nghĩ băn khoăn về tình cảnh đất nước Trung Hoa thuở bấy giờ. Lỗ Tấn nhà văn lỗi lạc, là “linh hồn của dân tộc”, ông đã khóc trước “nỗi đau của dân tộc” trong từng tác phẩm của mình, với Thuốc là một truyện ngắn mang kích thước của một truyện dài, để lại giá trị lịch sử vô cùng to lớn cho đất nước.

Trên đây là dàn ý chi tiêt và bài văn mẫu khi phân tích về tác phẩm Thuốc của Lỗ Tấn. Hy vọng bài viết đã cung cấp cho bạn những kiến thức hữu ích trong quá trình tìm hiểu và học tập của bản thân. Hãy luôn đồng hành cùng PUD để có cơ hội chia sẻ thêm nhiều thông tin hữu ích khác bạ nhé !

  • Xem thêm >>> Phân tích bài thơ Tỏ Lòng của Phạm Ngũ Lão [BÀI VIẾT HAY NHẤT]

 

Trả lời

error: Content is protected !!